<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Truyện ngắn Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<atom:link href="https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/truyen-ngan/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/truyen-ngan/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Thu, 07 Apr 2022 02:47:51 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.1</generator>

<image>
	<url>https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/cropped-logo-chuacoam-32x32.png</url>
	<title>Truyện ngắn Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/truyen-ngan/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Tổ Ma-ha Ca-diếp</title>
		<link>https://chuacoam.com/3922-2/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/3922-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 Apr 2022 02:47:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://chuacoam.com/?p=3922</guid>

					<description><![CDATA[<p>GNO &#8211; Ngài dòng Bà-la-môn ở nước Ma-kiệt-đà, cha tên ẨmTrạch, mẹ tên Hương Chí. Thuở bé, ngài dung nghi tuấn nhã, toàn thân phát sáng màu vàng, chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói: &#8220;Đứa bé này đời trước có phước đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia&#8221;. Cha mẹ ngài nghe...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/3922-2/">Tổ Ma-ha Ca-diếp</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-3923" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2022/04/ton-gia-ma-ha-ca-diep-1337-6108.jpg" alt="" width="770" height="547" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2022/04/ton-gia-ma-ha-ca-diep-1337-6108.jpg 770w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2022/04/ton-gia-ma-ha-ca-diep-1337-6108-768x545.jpg 768w" sizes="(max-width: 770px) 100vw, 770px" /></p>
<p><strong>GNO &#8211; Ngài dòng Bà-la-môn ở nước Ma-kiệt-đà, cha tên ẨmTrạch, mẹ tên Hương Chí.</strong></p>
<p>Thuở bé, ngài dung nghi tuấn nhã, toàn thân phát sáng màu vàng, chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói: &#8220;Đứa bé này đời trước có phước đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia&#8221;. Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng nhau thầm bàn &#8220;sẽ cưới vợ đẹp để làm nhụt chí của nó&#8221;.</p>
<p>Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất cho ngài, nhưng ngài một bề từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ, ngài phải nói: &#8220;Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng cưới&#8221;.</p>
<p>Cha mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước, tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả nhiên, gặp được một cô con gái giống hệt như ngài. Thế là ngài phải lập gia đình.</p>
<p>Bởi đời đức Phật Tỳ-bà-thi, sau khi Phật Niết-bàn, chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày trên mặt pho tượng bị lở khuyết. Khi ấy, ngài Ca-diếp là thợ đúc vàng. Có cô gái nhà nghèo, vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng đem đến nhờ ngài nấu ra để phết lại tượng Phật. Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Nhân đó, hai người cùng nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri kỷ, chứ không vì tình dục.</p>
<p>Do phước báo đó nên 91 kiếp thân thể hai vị đều toàn màu vàng. Sau, sanh cõi Phạm Thiên, hết phước cõi Phạm Thiên chết, sanh về cõi này trong nhà Bà-là-môn giàu có hiện tại.</p>
<p>Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri kỷ, không có ý dâm dục. Đến sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng, ngài liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh đầu-đà.</p>
<p>Một hôm, nhân nghe trong hư không có tiếng bảo: &#8220;Phật đã ra đời, nên đến đó thọ giáo&#8221;, ngài liền tìm đến tinh xá Trúc Lâm, chí thành đảnh lễ Phật. Phật bảo: &#8220;Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi!&#8221;.</p>
<p>Ngài liền cạo bỏ râu tóc, thọ giới Tỳ-kheo, mặc y ca-sa. Từ đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn tu hành không lúc nào lơi lỏng, cho đến chứng quả A-la-hán.</p>
<p>Có lần, ngài từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy, có ý thầm khinh. Phật biết, bèn bảo: &#8220;Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngươi&#8221;. Ngài vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo: &#8220;Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam muội và vô lượng công đức để tự trang nghiêm, Tỳ-kheo Ca-diếp này cũng như thế. Do đó, ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi&#8221;. Chúng Tỳ-kheo đều dứt tâm ngạo mạn, cúi đầu cung kính ngài.</p>
<p>Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh Sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu). Phật bảo: &#8220;Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ Chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan&#8221;.</p>
<p>Thế Tôn đến trước tháp Đa Tử gọi Ma-ha Ca-diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp, rồi nói kệ phó pháp:</p>
<p>Pháp bản pháp vô pháp,</p>
<p>Vô pháp pháp diệc pháp.</p>
<p>Kim phó vô pháp thời,</p>
<p>Pháp pháp hà tằng pháp.</p>
<p>Dịch:</p>
<p><em>Pháp gốc pháp không pháp,</em></p>
<p><em>Pháp không pháp cũng pháp,</em></p>
<p><em>Nay khi trao không pháp,</em></p>
<p><em>Mỗi pháp đâu từng pháp.</em></p>
<p>Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên: &#8220;Ca-diếp tuổi đã già, nên ở một chỗ nhận những thức cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn&#8221;.</p>
<p>Ngài bạch Phật: &#8220;Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói: &#8216;Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thọ sự cúng dường&#8217;, rồi họ sanh phóng túng&#8221;.</p>
<p>Lúc Phật Niết-bàn tại thành Câu-thi-na trong rừng Sa-la, thì ngài đang ở trong động Tất-bát-la trên núi Kỳ-xà-quật. Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và 500 đệ tử vội vã hướng về thành Câu-thi-na. Đến nơi, đã để Phật vào kim quan, ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim quan ba vòng, rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim quan để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất bi thảm.</p>
<p>Sau khi thiêu thân Phật xong, ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: &#8220;Xá-lợi của Phật giao cho trời, người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm Tỳ-kheo chúng ta phải lo kết tập kinh điển để lưu lại đời sau&#8221;.</p>
<p>Ngài bèn nói kệ:</p>
<p>Như Lai đệ tử,</p>
<p>Thả mạc Niết-bàn.</p>
<p>Đắc thần thông giả,</p>
<p>Đương phó kết tập.</p>
<p>Dịch:</p>
<p><em>Đệ tử Như Lai,</em></p>
<p><em>Chớ vội Niết-bàn.</em></p>
<p><em>Người được thần thông,</em></p>
<p><em>Nên đến kiết tập.</em></p>
<p>Thế là, sau Phật Niết-bàn 3 tháng, ngài triệu tập 500 vị đại A-la-hán tụ họp tại núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la kết tập. Chỉ có tôn giả A-nan không được dự hội, vì chưa sạch các lậu. Tôn giả A-nan buồn bã, suốt đêm chuyên tâm thiền định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu dứt sạch được quả A-la-hán. Sau đó, tôn giả được mời dự hội.</p>
<p>Ngài thưa toàn chúng: &#8220;Tỳ-kheo A-nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như Lai, nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt, nên mời kết tập tạng Kinh và tạng Luận. Mời Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kết tập tạng Luật&#8221;. Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Hội kết tập này, ngài là chủ tịch.</p>
<p>Sau cuộc kết tập này viên mãn, nhân duyên độ sanh đã xong xuôi, ngài thấy tuổi quá già yếu, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: &#8220;Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem Chánh pháp nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt&#8221;.</p>
<p>Ngài nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời sẽ trao lại, nên dự bị vào núi Kê Túc nhập định. Liền đó, ngài đi từ giả vua A-xà-thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ ngồi an nhiên nhập định.</p>
<div class="article__author"><span class="cms-author">Hòa thượng Thích Thanh Từ soạn dịch (Tu viện Chơn Không &#8211; 1971)</span></div>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/3922-2/">Tổ Ma-ha Ca-diếp</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/3922-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>CON VOI HUNG HÃN</title>
		<link>https://chuacoam.com/con-voi-hung-han/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/con-voi-hung-han/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 23 Apr 2020 14:37:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1359</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ngày xửa ngày xưa, tại khu rừng nọ có 2 con voi. Một con nhân từ và tốt bụng, còn con kia thì hung hãn và ngang tàng. Bấy giờ, có một con chim chích chòe làm tổ ở một bụi cây gần chân núi cạnh khu rừng, nó đẻ trứng và ấp được nhiều...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/con-voi-hung-han/">CON VOI HUNG HÃN</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[Ngày xửa ngày xưa, tại khu rừng nọ có 2 con voi. Một con nhân từ và tốt bụng, còn con kia thì hung hãn và ngang tàng. Bấy giờ, có một con chim chích chòe làm tổ ở một bụi cây gần chân núi cạnh khu rừng, nó đẻ trứng và ấp được nhiều con

<p>CON VOI HUNG HÃN</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img decoding="async" class="wp-image-1360" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-1.jpg" alt="" width="837" height="430" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-1.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-1-768x394.jpg 768w" sizes="(max-width: 837px) 100vw, 837px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img decoding="async" class="wp-image-1361" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-2.jpg" alt="" width="838" height="430" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-2.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-2-768x394.jpg 768w" sizes="(max-width: 838px) 100vw, 838px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-1362" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-3.jpg" alt="" width="840" height="431" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-3.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-3-768x394.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 840px) 100vw, 840px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-1363" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-4.jpg" alt="" width="841" height="432" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-4.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-4-768x394.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 841px) 100vw, 841px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-1365" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-5-1.jpg" alt="" width="844" height="433" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-5-1.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-5-1-768x394.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 844px) 100vw, 844px" /></figure>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-1366" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-6.jpg" alt="" width="829" height="425" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-6.jpg 2048w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/con-voi-hung-han-6-768x394.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 829px) 100vw, 829px" /></figure>



<figure class="wp-block-gallery columns-3 is-cropped wp-block-gallery-1 is-layout-flex wp-block-gallery-is-layout-flex">
<ul class="blocks-gallery-grid">
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1400" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0877-1-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1400" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0877-1.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1400" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1399" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/1-1-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1399" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/1-1.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1399" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1397" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0945-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1397" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0945.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1397" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1396" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0940-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1396" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0940.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1396" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1395" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0938-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1395" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0938.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1395" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1394" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0933-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1394" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0933.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1394" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1393" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0929-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1393" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0929.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1393" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1391" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0920-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1391" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0920.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1391" /></figure>
</li>
<li class="blocks-gallery-item">
<figure><img decoding="async" class="wp-image-1390" src="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0915-1024x1024.jpg" alt="" data-id="1390" data-full-url="http://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/IMG_0915.jpg" data-link="http://chuacoam.com/?attachment_id=1390" /></figure>
</li>
</ul>
</figure>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/con-voi-hung-han/">CON VOI HUNG HÃN</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/con-voi-hung-han/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Màu áo nâu sồng</title>
		<link>https://chuacoam.com/mau-ao-nau-song/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/mau-ao-nau-song/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:34:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1207</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ông bạn rót thêm tách trà đẩy về phía tôi: &#8211; Mời thêm tách nữa, trà này coi vậy mà uống được. Im lặng chợt ông ngước mặt nhìn tôi: &#8211; À! Chợt nhớ ra.&#160; Hôm Phật Đản cách nay mười năm, tôi lên chùa Long Sơn dự lễ.&#160; Lễ đường chật ních người.&#160; Các...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/mau-ao-nau-song/">Màu áo nâu sồng</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Ông bạn rót thêm tách trà đẩy về phía tôi:</p>



<p>&#8211; Mời thêm tách nữa, trà này coi vậy mà uống được.</p>



<p>Im lặng chợt ông ngước mặt nhìn tôi:</p>



<p>&#8211; À! Chợt nhớ ra.&nbsp; Hôm Phật Đản cách nay mười năm, tôi lên chùa Long Sơn dự lễ.&nbsp; Lễ đường chật ních người.&nbsp; Các giáo phẩm, các đạo hữu, các khuôn hội, các thầy trò trường Bồ Đề, chuông trống vang rền, ai nấy quỳ xuống. &nbsp; Mà sao tôi thấy ông lẽ loi đứng chắp hai tay mắt hướng nhìn tượng Phật?</p>



<p>Câu hỏi gợi lên bất ngờ, một niềm xúc động trào dâng, tôi nghẹn ngào không biết trả lời thế nào.&nbsp; Trí nhớ vun vút chạy lui về quá khứ.</p>



<p>…Năm 1954, Hiệp định Genèver, tôi đưa vợ con từ vùng kháng chiến Phú Yên về Đà Lạt quê vợ.&nbsp; Năm 1956, vợ tôi yếu tim, xuống Sài Gòn chữa bệnh.&nbsp; Bác Sĩ Massias khuyên đổi khí hậu, chọn một miền có gió biển hiền hòa như Nha Trang. &nbsp; Đang lúng túng thì có tin Thượng Tọa Trí Nghiêm, Tổng giám thị trường Trung học Bồ Đề Nha Trang nhắn ra gắp vì trường sắp xếp cho năm học mới.</p>



<p>Tôi chưa quen Thượng Tọa (TT), chưa diện kiến một lần nào.&nbsp; Có lẽ TT biết tôi vì hồi đó TT trụ trì ở một chùa gần làng tôi.&nbsp; Nhằm thời chiến tranh, cuộc sống đơn giản nghèo khó, lại nhằm tỉnh Phú Yên nhỏ hẹp, hiền hòa nên chắc là tôi được TT lưu ý dành cho cảm tình.&nbsp; Nhưng khi niên khóa mới bắt đầu thì TT được giáo hội điều ra tỉnh hội Thừa Thiên; ông Lê Bá Chẩn, Phó Tỉnh trưởng Khánh Hòa thay ông làm Tổng Giám thị trưởng.</p>



<p>Dạy được một năm thì vợ tôi trở bệnh, từ trần.&nbsp; Bác Sĩ De Moisnat, Giám đốc phòng khám bệnh dành riêng cho Pháp kiều ở Nha Trang buồn rầu bảo tôi trong lần khám bệnh chót: &#8220;Dẫu ở Paris hay Washington thì cũng đành chịu thua&#8221;… Tôi một mình dạy học nuôi con.&nbsp; Cần mẫn và khiêm tốn.&nbsp; Thời kháng chiến tôi làm Hiệu Trưởng một trường Trung học khá lớn, nhưng ở đây tôi chỉ dạy lớp 6, lớp 7.&nbsp; Học sinh một số lớn là con em miệt nhà quê Diên&nbsp; Khánh xuống học nên tính tình dễ thương.&nbsp; Có một số chú điệu cạo trọc đầu còn chừa một miếng tóc giống hình miếng tranh lợp nhà.&nbsp; Y như hồi nhỏ ở nhà quê, lũ con trai chúng tôi đều được trang điểm kiểu đó.</p>



<p>…Tháng năm nhẫn nại trôi.&nbsp; Cứ mỗi đầu năm học, tôi hồi hộp không biết năm nay nhà trường có phân phối số giờ dạy đủ cho tôi nuôi con tôi hay không.&nbsp; Ban quản trị nhà trường là một tập thể đông người.&nbsp; Thật khó mà giữ nguyên số giờ được phân phối, vì số giờ có thể thay tôi rất đông.&nbsp; Con, cháu, dâu, rễ… của những vị có chức sắc ở Ban quản trị, ở các khuôn nội… mấy chục thầy cô giáo có tiếng ở hai trường công lập Võ Tánh và Huyền Trân. Tôi ở thế yếu rõ ràng.&nbsp; Đã vậy gia đình vợ tôi lại là Công Giáo ở Đà Lạt mà nhiều người biết.&nbsp; Chưa hết.&nbsp; Khi vợ tôi mất, thằng con trai lên 9 tuổi tôi cho học ở trường Giu-sê Nghĩa Thục. &nbsp; Y như một thách thức!&nbsp; Trong khi thực tế chỉ đáng thương.</p>



<p>Chẳng là mẹ nó bị bệnh, nó lúc thúc chơi cạnh mẹ. &nbsp; Học hết lớp Một đâu ba tháng.&nbsp; Học lớp Hai chừng bốn tháng.&nbsp; Đến khi mẹ chết, nhìn số tuổi phải học lớp ba. &nbsp; Chỉ có trường Giu-sê Nghĩa Thục là ở gần nha, chớ học trường khác, ai đưa đón? Nhà trường có lệ phải thi nhập học. &nbsp; Đề luận văn, ra: &#8220;Tả cảnh ngày Tết nơi nhà trò bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:</p>



<p>1. Ngày Tết nhà trò có tổ chức gì để tưởng nhớ tổ tiên ông bà?</p>



<p>2. Trong bữa cỗ ngày Tết, trò thấy có gì?..&#8221;</p>



<p>Hồi giờ đã có học làm luận văn, toán gì đâu, nên hôm sau người thầy giáo phụ trách lớp (nguyên là học trò cũ của tôi thời chiến tranh) ghé lại tôi: &#8211; Thầy ơi, chớ thằng Hào nó làm luận cái kiểu gì như vầy, thầy?</p>



<p>&#8211; Nó làm sao?</p>



<p>&#8211; Nó ghi: Bài làm</p>



<p>Câu số 1: Cúng.</p>



<p>Câu số 2: Xào, gỏi dưa leo, thịt lụi, canh.</p>



<p>Tôi bậc cười, nói nhỏ: &#8211; Thôi, em liệu bào chế sao cho nó đậu cái đã. Rồi &#8220;qua&#8221; lo dạy nó sau.&nbsp; Những cảnh khổ, tôi nhẫn nại chịu đựng trong im lặng.&nbsp; Không ngờ có người biết, trong đó có Hòa Thượng Trí Thủ, Hòa Thượng đang là Giám đốc Phật học viện và tôi chưa có dịp gặp.&nbsp; Vậy mà một hôm có người mách nhỏ với tôi:- Những khó khăn của anh, Hòa Thượng Trí Thủ biết hết.&nbsp; Chuyện vợ anh là Công Giáo, chuyện con anh học trường Công Giáo, chuyện có một số Phật tử muốn chiếm chỗ dạy của anh.&nbsp; Nên Hòa Thượng có dặn Thượng Tọa Đổng Minh hãy lưu ý coi trường Bồ Đề có chia giờ dạy đủ cho anh nuôi con hay không.&nbsp; Tôi nghe mà xúc động rưng rưng.</p>



<p>Bên cạnh Hòa Thượng Trí Thủ, Trí Nghiêm, tôi còn được quen với Hòa Thượng Chí Tín trụ trì chùa Long Sơn nằm sát cạnh trường Bồ Đề.&nbsp; Đứng bên gốc cây xứ hoa vàng nhìn xuống sân trường, nhìn đám học sinh ngây thơ nhảy giỡn, hay nhìn đoàn nữ sinh cầm tay nhau&nbsp; chầm chậm bước trên lối đi, nhìn các thầy cô giáo nghiêm trang nề nếp… tôi nghĩ rằng thầy trò chúng tôi đã ghi những nét dễ thương nơi tâm hồn Hòa Thượng. &nbsp; Rồi còn Thích Phước Sơn, Thích Minh Tuệ… Hiệu Trưởng của trường; rồi Thích…Thích… nhiều lắm, kể sao cho đủ, kể sao cho hết.&nbsp; Và vậy là bao nhiêu khổ đau của cuộc đời tôi như được xoa dịu, tâm hồn tôi như được an ủi…</p>



<p>… Tôi chợt giật mình nhìn sang ông bạn, nhớ là mình đã lơ đãng quên trã lời câu hỏi của ông.&nbsp; Tôi nhẹ mĩm cười – dấu hiệu nhận lỗi – và chầm chậm nói – cũng dấu hiệu nhận lỗi: &#8211; Tôi quỳ lạy khi cầu xin ơn phước. &nbsp; Chẳng hạn xin cho một người bị bệnh, một người thân bị nạn, một người lương thiện bị tai họa.&nbsp; Quỳ lại một mình.&nbsp; Tôi chấp tay hướng&nbsp; mắt nhìn tượng Phật để tập trung suy nghĩ về chân lý giải thoát và biểu tỏ lòng sùng kính.&nbsp; Ở vào vị thế của tôi và trường hợp hôm nay… à thôi, ông bạn nghĩ một chút, ắt hiểu.</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/mau-ao-nau-song/">Màu áo nâu sồng</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/mau-ao-nau-song/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Truyện ngụ ngôn &#8220;Bốn con rắn&#8221;</title>
		<link>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-bon-con-ran/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-bon-con-ran/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:33:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1204</guid>

					<description><![CDATA[<p>&#160;&#8220;Đại Đức NÀRADA, Mahà Thera là một vị Tỳ Khưu trứ danh người Tích Lan. Ngài là một vị cao tăng đã nắm vững chắc phần giáo lý cao siêu nhà Phật. Thêm vào đó Ngài đã hấp thụ được phần uyên thâm hoằng&#160;đại của nền văn hóa Tây Phương, về triết học cũng như...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-bon-con-ran/">Truyện ngụ ngôn &#8220;Bốn con rắn&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p><em>&nbsp;&#8220;Đại Đức NÀRADA, Mahà Thera là một vị Tỳ Khưu trứ danh người Tích Lan. Ngài là một vị cao tăng đã nắm vững chắc phần giáo lý cao siêu nhà Phật. Thêm vào đó Ngài đã hấp thụ được phần uyên thâm hoằng&nbsp;</em><em>đại của nền văn hóa Tây Phương, về triết học cũng như về khoa học tối tân hiện đại.</em></p><p><em>&#8220;Do cái thiên tư hiếm có ấy Ngài đã giúp cho hàng học giả Âu Tây thấu hiểu rõ ràng những điểm rất tế nhị trong Tam Tạng Pali về vũ trụ quan và tâm linh quan. Cũng nhờ sở năng đặc biệt đó mà Ngài trình bày dễ dàng và rành mạch, ai cũng hiểu được, bao nhiêu tài liệu căn bản trong kinh sách Phật Giáo mà đúng ra những ai không phải là nhà chuyên môn khó lòng lãnh hội&#8230;&#8221;</em></p><p>Bác sĩ MIGOT</p></blockquote>



<p>-ooOoo-</p>



<p>LỜI TỰA</p>



<p>Trong ba tháng kiết hạ tại chùa Kỳ Viên, Chư Tăng Việt Nam và Đại đức NÀRADA Mahà Thera đã sống một nếp sống gương mẫu. Quý Ngài đã tận dụng thì giờ quý báu vào công trình xây dựng đạo pháp và tỏ ra rất xứng đáng với chú nguyện giải thoát và nhiệm vụ lãnh đạo tinh thần của hàng Tăng Bảo.</p>



<p>Ngoài sự trau dồi Giới &#8211; Định &#8211; Tuệ, các Ngài nỗ lực khảo cứu Tam Tạng, giảng đạo, thuyết pháp, soạn thảo, trích dịch những tài liệu Phật học và tích cực gia công đào tạo các thầy Sadi gương mẫu để giao phó nhiệm vụ hoằng pháp trong tương lai.</p>



<p>Chư vị Tỳ Khưu cũng như Đại đức NÀRADA Mahà Thera đã thực hiện tròn đủ tôn chỉ tự độ, độ tha. Ban đêm tham thiền minh sát, ban ngày vừa tiếp rước khách thập phương, vừa chia thì giờ viết sách, sửa bản in, dạy kinh, giảng đạo và huấn luyện các em Thanh Thiếu Niên Phật tử, các Ngài còn tổ chức những công tác xã hội như giúp đỡ người nghèo nàn thiếu thốn, tại chùa tại các trại dưỡng lão, các cô nhi viện v.v&#8230; Các Ngài luôn luôn sẵn sàng đem lòng bác ái xoa dịu mọi niềm đau khổ.</p>



<p>Chẳng biết lấy chi đền đáp ân đức cao dầy của Chư Tăng và Đại đức NÀRADA Mahà Thera giới cư sĩ chúng tôi chung cùng ấn tống quyển &#8220;Chuyện ngụ ngôn Bốn Con Rắn&#8221; trong dịp các Ngài ra Hạ, mong tạo phước lành hồi hướng đến các Ngài và cầu nguyện oai lực Tam Bảo hộ trì các Ngài dồi dào sức khỏe để phụng sự Phật pháp và sớm thành đạt đạo quả Niết Bàn.</p>



<p>Công phu tạo phần pháp thí này do đạo hữu Phạm Kim Khánh đã lưu tâm ghi chép các bài pháp của Đại đức NÀRADA Mahà Thera cùng sưu tập những tài liệu quý giá trong kinh sách, nhất là quyển VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) và cố gắng mô tả phần nào những pháp vô hình cấu tạo con người, mong giúp chư độc giả ý thức tính cách vô thường của kiếp sống, hầu nông trang theo dõi Đức Phật trên đường tiến hóa đến nơi Vô Sanh Bất Diệt. Âu cũng là một sự đóng góp hữu hiệu của một Phật tử chân thành trong công trình hoằng dương Phật pháp. Dĩ nhiên công tác Phật sự này vừa đem lại cho tác giả một nguồn phước báu vô biên vừa là một tiến bộ vững chắc của đạo hữu Phạm Kim Khánh trên đường giác ngộ.</p>



<p>Cầu xin quả phúc do sự ấn tống quyển kinh này sớm đem lại hòa bình cho quê hương tổ quốc và hạnh phúc an vui cho dân tộc.</p>



<p>Tín đồ Phật Giáo Nam Tông<br>Kỳ Viên Tự, Sài gòn, 1964</p>



<p>-ooOoo-</p>



<p>Tích chuyện</p>



<p>Một ông Vua kia có nuôi bốn con rắn độc. Con thứ nhất tên &#8220;Rắn mỏ cây&#8221; (Kattha mukha) vì có cái mỏ cứng như cây, mổ đau lại có nọc độc. Rắn thứ nhì tên &#8220;Rắn mỏ thúi&#8221; (Puti Mukha) vì mỗi lần cắn ai thì thân thể người ấy sình thúi và tan rã ra nước. Thứ ba là &#8220;Rắn mỏ lửa&#8221;vì ai bị rắn này cắn thì nghe trong mình nóng như bị lửa thiếu đốt đến chết. Thứ tư là &#8220;Rắn mỏ khí giới&#8221; (Sattha Mukha) vì có răng thật bén, mỗi lần cắn ai thì cũng như dùng khí giới gây tử thương người đó. Vua giao phó việc chăm nom bốn con rắn ấy cho một ông quan cận thần. Khi nào có ai phạm trọng tội thì bị cho rắn cắn. Lúc có chiến tranh thì Vua thả rắn ra diệt trừ quân địch.</p>



<p>Hôm nọ có một tên trộm đáng bị tử tội. Vua truyền đem tội nhân cho rắn cắn. Ông quan dẫn tên tử tội đến chuồng rắn và mở nắp ra. Một trong bốn con rắn bò ra, quấn tay mặt tội nhân và gác đầu bên vai trái. Con thứ nhì quấn mình quanh tay trái và gác đầu lên vai mặt. Con thứ ba quấn ngang bụng. Con thứ tư quấn cổ và gác mỏ lên đầu tên trộm. Bị rắn quấn đầy mình mà anh không tỏ vẻ lo sợ chút nào. Vừa lúc ấy có một vị hiền nhân giàu lòng bác ái đi ngang qua thấy vậy hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh không sợ chết hay sao?</p>



<p>Anh vừa chỉ rắn vừa đáp:</p>



<p>&#8211; Đây là các vật trang sức của tôi. Tay tôi đeo neo, bụng thắt dây lưng, cổ có kiềng và dây chuyền, đầu lại đội mão.</p>



<p>&#8211; Không phải đâu, đó chỉ là bốn con rắn độc.</p>



<p>&#8211; Tôi có thấy đâu là rắn độc. Nó có vẻ hiền lành lắm và đeo trên mình tôi thế này là đẹp lắm đấy chớ!</p>



<p>&#8211; Bạn nên suy nghĩ lại kỹ càng và hãy bắt đầu lo từ bây giờ. Không nên lãng quên. Một ngày kia một con rắn sẽ bảo bạn đứng dậy nếu không thì nó không chịu. Nếu bạn làm theo thì ba con rắn kia bất bình. Rồi con thứ nhì sẽ bảo bạn đi tới. Rồi con thứ ba bảo bạn nằm, con thứ tư bảo bạn ngồi. Bạn không thể nào thoát khỏi ách nô lệ của chúng nó và bạn luôn luôn bị tai họa.</p>



<p>&#8211; Vậy bây giờ tôi phải làm thế nào?</p>



<p>&#8211; Bạn hãy lén lén bỏ rắn vào chuồng và mau chạy thoát ra khỏi chốn này.</p>



<p>Tên tội nhân làm y theo lời dạy.</p>



<p>Khi ông quan hay được thì vào triều tâu lại tự sự cho Vua. Vua truyền thả rắn ra rượt theo. Bốn con rắn cố sức chạy theo tên tội. Cùng một lúc ấy vua truyền năm tên binh sĩ theo phụ sức với rắn bắt cho được tên trộm, nếu thành công sẽ được trọng thưởng.</p>



<p>Vua cũng truyền gọi một người bạn chí thân của tội nhân đến dạy phải rượt bắt. Nếu bắt được tội nhân, vua sẽ phong cho làm đại tướng.</p>



<p>Nói về tên trộm, khi thoát ra khỏi chỗ nguy hiểm thì có ý dễ duôi hưởn đãi. Vị hiền nhân xuất hiện và nhắc nhở anh rằng tuy đại nạn vừa thoát khỏi nhưng anh chưa được châu toàn đâu. Hãy cố gắng, cố gắng tìm phương thoát nạn.</p>



<p>Anh vâng lời ráng sức chạy. Được một đỗi thì đến một làng nọ. Bụng đói, sức đuối, anh chạy riết vào làng tìm thức ăn và chỗ nghỉ nhưng đó chỉ là một làng bỏ hoang. Trong làng có sáu cái nhà mà nhà nào cũng vắng tanh. Chén dĩa nồi niêu đều trống không. Anh đâm ra chán nản, tìm một gốc cây dựa lưng vào nghỉ.</p>



<p>Vị hiền nhân lại xuất hiện và khuyên anh chớ nên trì hưỡn vì có thêm sáu tướng cướp đang chạy vào làng cùng bắt anh. Anh hoảng sợ bỏ chạy nữa. Một lúc sau anh đến trước một con sông rộng lớn. Từ bờ bên này qua bờ bên kia xa xa có một cù lao, có tất cả ba cù lao. Trong lòng sông, bốn giòng nước lũ gặp nhau xoay tròn thành một cái xoay rộng lớn. Bên kia bờ cỏ cây có vẻ yên tĩnh, nhàn lạc và an toàn. Còn bờ bên này thì chông gai đầy dẫy, phía sau lại có bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân trở mặt và sáu tên cướp đang rượt theo.</p>



<p>Nhưng làm sao qua sông? Không có cầu. Thuyền cũng không. Anh liền tìm cây và dây trong rừng kết lại làm một chiếc bè và hết sức cố gắng dùng cả tay lẫn chân bơi cho bè mau tách xa bờ. Khi đến cù lao thứ nhất anh ngoảnh nhìn lại phía sau thì thấy rắn, lính, người bạn và tướng cướp tất cả đều đến ven sông. Nhìn ra phía trước thấy còn hai cù lao và bờ bên kia. Anh lại nỗ lực bơi riết qua cù lao thứ nhì, thứ ba và rốt cùng đặt chân lên bờ bên kia, trên giải đất an lành tươi đẹp. Anh nghe trong người khoan khoái nhẹ nhàng, sẵn sàng bỏ lại sau lưng chiếc bè và bao nhiêu gian lao nguy khổn.</p>



<p>Bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân và sáu tên cướp biết rằng không thể nào bắt được tên tội nên buồn rầu. kẻ trước người sau, tất cả đều chết.</p>



<p>* * *</p>



<p>Trong chuyện ngụ ngôn kể trên, ông vua tượng trưng cho Nghiệp. Tên trộm là chúng sanh. Bốn con rắn tượng trưng bốn yếu tố (tứ đại) cấu thành phần vật chất của con người. Năm tên lính là ngũ uẩn. Người bạn thân trở mặt làm thù là cái gọi là &#8220;bản ngã&#8221; của con người. Sáu cái nhà bỏ không là lục căn. Sáu tên cướp lùng bắt tên trộm là lục trần. Rắn, lính, bạn, tướng cướp, tất cả mười sáu điều đó là những pháp làm cho chúng sanh phải đắm đuối trong vòng luân hồi. Sự tham dục, sự luyến ái theo đời sống, tà kiến và vô minh là bốn giòng nước lũ. Chiếc bè là Bát Chánh Đạo, và ba cù lao là ba đạo quả thánh Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm. Khi đắc đạo quả thứ tư &#8211; A la Hán &#8211; là bước chân lên bờ bên kia, bờ giải thoát của Niết Bàn vậy.</p>



<p>-ooOoo-</p>



<p>PHẦN CHÚ GIẢI</p>



<p>Ông Vua tượng trưng cái Nghiệp. Nghiệp (Kamma), tiếng Bắc Phạn là Karma, là hành động.</p>



<p>Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là tác ý, tốt hay xấu (Kusala, Akusala Cetàna). Mỗi tư tưởng, lời nói hay việc làm của ta đều do ý muốn làm động cơ thúc đẩy. Ta gọi ý muốn hay ý chí ấy là tác ý (Cetàna). Tác ý có thể tốt hay xấu. Tác ý thiện (Kusala) hay bất thiện (Akusalà) đều tạo Nghiệp.</p>



<p>Đức Phật dạy: &#8220;Này hỡi các Tỳ Khưu Như Lai tuyên bố rằng chính Tác ý là Nghiệp. Có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu, hay ý&#8221;.</p>



<p>Ngoại trừ những hành động của chư Phật và chư vị A La Hán, mỗi hành động có tác ý đều gọi là Nghiệp. Mặc dầu chư Phật và chư vị A La Hán vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của những nhân đã gieo trong quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới nữa vì đã hoàn toàn đoạn tuyệt mọi tham vọng. Các Ngài đã thoát ra ngoài cái lành hay cái dữ. Hành động của các Ngài không thiện (Kusala), cũng không ác (Akusala), mà hành (Kiriya), nghĩa là tuyệt đối không gây quả, không tạo Nghiệp.</p>



<p>Chính Tâm tạo ra Nghiệp. Nếu không có Tâm trong việc làm thì không có Nghiệp. Cây cỏ không tạo Nghiệp vì không có Tâm. Cây cỏ không tạo Nghiệp vì không có Tâm, mặc dầu có cử động. Những vật vô tri vô giác như kim đồng hồ, cánh quạt, mặc dầu có cử động không tạo Nghiệp vì không có Tâm tức là không có ý muốn. Một hành động vô tình nghĩa là không do một ý muốn thúc đẩy thì không tạo Nghiệp bởi vì Nghiệp tùy thuộc nơi ý muốn hay tác ý dẫn đến hành động. Vậy một hành động không có tác ý không tạo Nghiệp.</p>



<p>Có một vài hệ thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi sự chênh lệch trong xã hội đều do nơi Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp lại chủ trương rằng mọi hành động, có tác ý cùng không, đều tạo Nghiệp. Theo chủ trương ấy thì một người giết cha giết mẹ, dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng tội như nhau. Người sát nhân hay đối xử tàn ác với một chúng sanh khác, dầu vô tình hay cố ý, đều phạm tội bằng nhau cũng như thò tay vào lửa là bị nóng. Dầu cố tình hay vô ý, thọc tay vào lửa thì cũng bị phỏng như nhau, không hơn không kém.</p>



<p>Một lập luận như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một kết luận phi lý. Đứa bé vô tội trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, bà mẹ vô ý làm đau con trong lòng hẳn cũng phạm tội ác? Vả lại nêu ra một sự kiện để giải thích một sự kiện tương tợ như trường hợp của người thọc tay vào lửa và người hành động ác là một luận cứ không thể đứng vững. Thí dụ theo luận cứ trên, nếu ông A sai ông B đi giết người thì chính ông B phạm tội sát nhân mà ông A thì không sao cả vì chỉ có ông B thọc tay vào lửa. Hơn nữa cũng theo luận cứ trên, một hành động ác không có tác ý có thể còn tai hại hơn là hành động ác có tác ý. Nói một cách khác cố ý làm ác bị hại ít hơn là vô tình vì theo thí dụ người thọc tay vào lửa, biết rằng lửa nóng người cố tâm tất phải dè dặt hơn nên ít bị nóng, người vô tình, vì không định ý trước, không kịp ngăn ngừa ắt bị phỏng nhiều hơn&nbsp;<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[1]"><em>[1]</em>.</a></p>



<p>Theo Phật Giáo, trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do nơi Tâm. Không kềm chế Tâm tức nhiên không kềm chế được việc làm, lời nói và tư tưởng. Kềm chế Tâm tức là kềm chế thân, khẩu, ý.</p>



<p>&#8220;Chính Tâm dẫn dắt thế gian. Chính Tâm lôi kéo thế gian. Và tất cả mọi người đều làm chủ cái Tâm&#8221;.</p>



<p>Kinh Pháp Cú cũng có câu:</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p>&#8220;Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu ta nói hay làm với Tâm ác thì sự đau khổ sẽ theo ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe&#8221;.</p></blockquote>



<p>và:</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p><em>&#8220;&#8230; Nếu ta nói hay làm với Tâm trong sạch, hạnh phúc sẽ theo ta như bóng theo hình&#8221;.</em></p></blockquote>



<p>Ta lại thắc mắc vì sao một vật vô hình như Tâm lại có thể gây ra những sự xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra không có gì lạ mà cũng không có gì khó hiểu. Chính những bộ máy cực kỳ hùng mạnh và có khả năng làm đảo lộn thế gian hiện đại chỉ là sản phẩm của những bộ óc phong phú.</p>



<p>Tên trộm là cái được gọi là chúng sanh. Tất cả chúng sanh trong dục giới và sắc giới&nbsp;<em><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[2]">[2]</a>&nbsp;</em>đều là sự cấu thành của hai yếu tố danh và sắc (nàma rùpa). Nói một cách khác trong con người có hai phần:</p>



<p>1. Phần vật chất hữu hình, biểu hiện ra ngoài bằng hình thể mà ngũ quan có thể nhận thức được; và<br>2. Phần tinh thần, vô hình, nằm bên trong.</p>



<p>Hai phần, hữu hình và vô hình, cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết để sinh hoạt.</p>



<p>Mặc dầu tất cả mọi người đều do danh và sắc hợp thành, không thể có hai người hoàn toàn giống nhau về mặt vật chất cũng như về phương diện tinh thần.</p>



<p>Sự khác biệt ấy có phải do giới thân cận không? Hay do luật truyền thống? Cả hai đều không hoàn toàn đúng vì không giải thích được tại sao hai đứa trẻ sinh đôi, cùng một huyết thống, cùng trưởng thành trong một nhà, mà tánh tình lại khác nhau.</p>



<p>Chắc chắn rằng giới thân cận và huyết thống có một ảnh hưởng quan trọng trong bản tính con người. Nhưng hai yếu tố ấy không đủ tạo nên một người.</p>



<p>Thuyết truyền thống không thể giải thích vì sao trong một gia đình có tiếng là hiền lương trong sạch từ mấy đời lại sanh ra một đứa con ngỗ nghịch, sát nhân, hay vì sao một đứa trẻ hiền lành đạo đức lại là con của một tên cướp tàn ác hung tợn.</p>



<p>Nếu đi ngược giòng thời gian và dò lần trở lên nguồn gốc một kiếp sống ta sẽ đến tế bào đầu tiên của bào thai và tế bào này là sự phối hợp của hai yếu tố: tinh trùng và minh châu của cha mẹ.</p>



<p>Hai yếu tố ấy có đủ để tạo một bào thai không? Nếu cho rằng đủ thì ta không thể hiểu được vì sao một ông A lại có diễm phúc lọt vào bào thai của nhà đại phú gia kia còn ông B thì vào bào thai người cùng đinh nọ.</p>



<p>Phật Giáo chủ trương phải có một yếu tố thứ ba, rất quan trọng, để tạo thành bào thai. Nếu không có yếu tố này, tinh trùng và minh châu chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi tiêu diệt và chính do yếu tố thứ ba mà có sự khác biệt tế nhị giữa chúng sanh. Yếu tố ấy là &#8220;thức tái sanh&#8221; (Patisandhi-vinnàna) hay là Tâm Thức nối liền hai kiếp sống.</p>



<p>Đức Phật dạy: &#8220;Này hỡi các Tỳ Khưu! nơi nào có ba yếu tố ấy phối hợp lại là mầm sống phát sinh. Nếu cha và mẹ gặp nhau mà không nhằm thời kỳ sanh sản của mẹ và không có một &#8220;chúng sanh đi tái sanh&#8221; (Gandhabba) thì không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau trong thời kỳ sanh sản của mẹ mà không có một &#8220;chúng sanh đi tái sanh&#8221; thì cũng không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau nhằm thời kỳ sinh sản của mẹ và có một &#8220;chúng sanh đi tái sanh&#8221; thì có mầm sống, do sự phối hợp của ba yếu tố&#8221;&nbsp;<em><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[3]">[3]</a></em>.</p>



<p>Một &#8220;chúng sanh đi tái sanh&#8221; ở chỗ này tức nhiên phải có một chúng sanh chết ở một nơi nào khác. Có sanh ở một kiếp này tức có tử ở một kiếp trước. Sanh và tử chỉ là hai giai đoạn của một tiến trình. Sanh rồi tử, tử rồi sanh, sự luân lưu bất tận sanh tử, tử sanh của chuỗi dài những kiếp sống gọi là luân hồi (Samsara, Ta-bà).</p>



<p>Vậy, tế bào đầu tiên của bào thai không phải là khởi điểm của sự sống. Nhưng ngũ quan và luận lý hạn định của ta không thể đi xa hơn đó nữa và cũng không thể nhận thức được nguồn gốc của &#8220;thức tái sanh&#8221;.</p>



<p>Đức Phật đã trau dồi trí tuệ đến mức tuyệt đỉnh. Ngài thông suốt những cảnh giới ngoài phạm vi hiểu biết do ngũ quan ta và thấu triệt rành mạch nguồn gốc của &#8220;thức tái sanh&#8221;. Đức Phật dạy rằng thức tái sanh làm khởi điểm một kiếp sống mới tùy thuộc nơi chập tư tưởng cuối cùng của kiếp sống quá khứ và tiến trình sanh tử, tử sanh luôn luôn biến đổi, luôn luôn trở thành là kết quả của Nghiệp tức là của hành động&nbsp;<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[4]"><em>[4]</em>.</a></p>



<p>Tóm tắt, cái được gọi là chúng sanh là sự phối hợp của hai yếu tố, danh và sắc. Và Nghiệp là nguyên do.</p>



<p>Phật Giáo không chủ trương có một đấng Tạo Hóa toàn tri toàn năng tạo ra muôn loài vạn vật, cũng không tin có một linh hồn trường cửu, bất di bất dịch. Đức Phật dạy rằng chính ta tạo ra ta. Chính hành động (Nghiệp) của ta trong quá khứ tạo thể xác hiện tại của ta. Mà cũng chính ta tiêu diệt ta. Ta tạo thiên đàng cho ta. Ta tạo địa ngục cho ta. Chính cái nghiệp của ta, tức là hành động của ta trong dĩ vãng, làm cho ta hôm nay giàu hay nghèo, sang hay hèn, thông minh hay ngu dốt v.v&#8230; Thay vì tin rằng có một thần linh tối thượng sanh ra ta và cho ta một số mạng, ta tin nơi Nghiệp. Nói một cách khác, thay vì đổ lỗi cho người khác, chúng ta hoàn toàn nhận lấy trách nhiệm và bổn phận xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.</p>



<p>Lời mẹ dạy con: &#8220;Nếu con ngoan thì mẹ cưng. Nếu con nghịch thì mẹ đánh&#8221; là giáo lý Nghiệp Báo của nhà Phật. Gieo giống nào thì gặt giống nấy. Gieo lành thì gặt lành. Gieo dữ thì gặt dữ.</p>



<p>1. TỨ ĐẠI</p>



<p>Bốn con rắn, &#8220;mỏ cây&#8221;, &#8220;mỏ thúi&#8221;, &#8220;mỏ khí giới&#8221;, và &#8220;mỏ lửa&#8221; tượng trưng bốn nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Gió cấu thành vật chất. Ta gọi là Tứ Đại.</p>



<p>Trong 45 năm hoằng pháp Đức Phật gặp rất nhiều hạng người. Để cho mỗi người đều có thể lãnh hội giáo lý, lắm lúc Ngài thuyết những bài pháp sâu xa tế nhị, đôi khi Ngài cũng dùng ngôn ngữ thông thường giản dị, tùy trường hợp, tùy căn cơ của người thính pháp.</p>



<p>Trong tạng Luật và tạng Kinh Đức Phật dùng danh từ ước định (conventionnel) thông thường, như người, thú, chúng sanh v.v&#8230; trái lại trong tạng. Luận mỗi sự vật đều phải được phân tách tỉ mỉ đến mức cùng tột nên Đức Phật dùng những danh từ trừu tượng (abstrait).</p>



<p>Có hai thực tế. Một biểu hiện ra ngoài mà ngũ quan ta có thể thâu nhận và một thực tế cùng tột. Thực tế bề ngoài là những chân lý ước định, (Samuti Sacca, vérité conventionnelle). Thực tế cùng tột (Paramattha Sacca, vérité abstraite) là những chân lý trừu tượng, tuyệt đối.</p>



<p>Thí dụ như cái bàn, cái quạt, con người, con vật v.v&#8230; là những thực tế ước định, bề ngoài. Bằng một cách ước định, chúng ta chấp nhận danh từ bàn, quạt, người v.v&#8230; để chỉ những vật ấy. Nhưng phân tách cái bàn ta thấy rằng cái mà ta gọi là bàn chỉ là sự kết hợp của những tế bào và tế bào chỉ là sự kết hợp của những năng lực (force) và bẩm tính (qualité). Vậy, phân tách đến mức cuối cùng, vật chất chỉ là sự cấu thành của những năng lực và bẩm tính. Năng lực và bẩm tính ấy là thực tế cùng tột, chân lý trừu tượng.</p>



<p>Một thí dụ khác: Khi nói chuyện với mọi người, nhà bác học gọi nước là nước. Nhưng trong phòng thí nghiệm, để chỉ nước, nhà bác học gọi là H2O mà không gọi nước. Nước là danh từ ước định, phổ thông. H2O là danh từ trừu tượng, chuyên môn.</p>



<p>Tứ Đại là bốn thành phần căn bản trong vật chất, &#8220;bất khả phân tán&#8221;. Mỗi bản thể vật chất, từ vật vi tế nhất đến vật to lớn nhất đều do bốn yếu tố này cấu hợp. Danh từ Đất, Nước, Lửa, Gió dùng ở đây không phải là đất như ta thường biết, nước, lửa, gió cũng vậy mà dùng theo nghĩa trừu tượng. Đất, Nước, Lửa, Gió ở đây là những chân lý cùng tột. (Paramattha Sacca)&nbsp;<em><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[5]">[5]</a></em>.</p>



<p>Cách đây không bao lâu khoa học còn chủ trương rằng đơn vị nhỏ nhất và bất khả phân tán của vật chất là nguyên tử. Nhưng đến mấy năm sau này thì các nhà bác học đã phân tán được nguyên tử và khám phá rằng trong nguyên tử còn có điện tử, dương tử v.v..</p>



<p>Ở Ấn Độ, vào thời Đức Phật, danh từ Paramanu có nghĩa tương đương như danh từ nguyên tử của thời đại hiện kim. Một hột bụi rất nhỏ mà ta thấy vởn vơ trong làn ánh sáng, gọi là Ratharenu, có thể phân làm 16 Tajjàris. Một Tajjàri chia làm 16 Anus, và một Anu chia làm 16 Paramanus. Vậy, nếu ta chia hột bụi làm 4096 phần thì Paramanu là 1 phần nhỏ ấy. Theo quan niệm thời bấy giờ thì Paramanu là đơn vị vi tế nhất của vật chất, không thể phân tách được nữa.</p>



<p>Trí tuệ siêu thế của Đức Phật phân paramanu ra làm những thực thể cùng tột (paramatthas), không thể phân tán. Những thực thể cùng tột ấy là:</p>



<p>&#8211; Nguyên tố Đất (Pathavi-Dhàtu)<br>&#8211; Nguyên tố Nước (Àpo-Dhàtu)<br>&#8211; Nguyên tố Lửa (Teyo-Dhàtu)<br>&#8211; Nguyên tố Gió (Vàyo-Dhàtu )</p>



<p>NGUYÊN TỐ ĐẤT (Pathavi Dhàtu)</p>



<p>Phạn ngữ Dhàtu có nghĩa là cái gì giữ đặc tính riêng biệt của mình. Pathavi là Đất. Pathavi Dhàtu là thành phần đất trong vật chất làm nền tảng cho các phần tử khác. Pathavi (Do căn nguyên puth) còn có nghĩa là lan rộng ra, duỗi ra. Vậy Pathavi Dhàtu là phần tử trong vật chất có tánh cách duỗi ra, nở ra, lan rộng ra để chiếm không gian.</p>



<p>Tánh cách cứng rắn hay mềm mại &#8211; hoàn toàn tương đối &#8211; cũng do nguyên tố Đức (Pathavi Dhàtu ). Trong tất cả mọi hình thức vật chất (trong đất, trong nước, lửa hay trong không khí) đều có nguyên tố Đất. Cũng như trong tất cả mọi hình thức vật chất đều có ba nguyên tố Nước, Lửa, Gió. Nhưng trong một thể chất, nguyên tố này có thể nhiều hơn nguyên tố kia. Trong gỗ chẳng hạn, nguyên tố Đất trội hơn ba nguyên tố kia. Trong dầu thì nguyên tố nước trội hơn v.v&#8230;</p>



<p>Trong một ly nước, do tánh cách duỗi ra của nguyên tố Đất hợp với tánh cách chuyển động của nguyên tố Gió, lớp nước ở dưới tạo một áp lực để nâng đỡ lớp trên. Tánh cách nóng hay lạnh của ly nước là do nguyên tố Lửa. Chính nguyên tố Nước tạo nên thể lỏng.</p>



<p>NGUYÊN TỐ NƯỚC (Àpo Dhàtu)</p>



<p>Đúng nghĩa là phần tử lỏng. Phạn ngữ Àpo do căn nguyên Ap nghĩa là đến hay là do hai căn nguyên ã và pãy nghĩa là lớn lên trưởng thành, thêm lên. Nguyên tố Nước (Àpo Dhàtu) là phần tử trong vật chất có tánh cách dính liền hay kết hợp lại. Theo Phật Giáo, chính nguyên tố này kết hợp các phần tử vi tế rời rạc trong không gian và cho ta ý niệm &#8220;hình thể&#8221; (corps). Khi một &#8220;hình thể&#8221; ở thể đặc &#8211; như các loài kim khí &#8211; mà biến ra thể lỏng, nguyên tố Nước trở nên trội hơn ba nguyên tố kia. Khi ta nghiền vật chất ra thành bột nhuyễn, trong mỗi hột bột vi tế kia cũng có đủ bốn nguyên tố.</p>



<p>Tánh cách lỏng và tánh cách teo lại cũng do nguyên tố Nước.</p>



<p>Ta nên ghi nhớ rằng lạnh không phải là một đặc tánh của nguyên tố Nước.</p>



<p>Hai nguyên tố duỗi ra và kết hợp lại (Đất và Nước) liên quan với nhau mật thiết đến đỗi khi một trong hai mất thì nguyên tố kia cũng tiêu.</p>



<p>NGUYÊN TỐ LỬA (Tejo Dhàtu)</p>



<p>Là thành phần trong vật chất có tánh cách nóng. Phạn ngữ Tejo do căn nguyên Tij, có nghĩa là làm cho bén nhọn, hay làm cho chín mùi. Nguyên tố Lửa (Tejo Dhàtu) tạo sinh lực cho vật chất, làm cho vật chất biến đổi, trở nên già, chín. Giữ cho vật chất tồn tại hay hủy hoại vật chất đều do nguyên tố Lửa. Đặc tánh của nguyên tố này là làm cho vật chất tự hồi sinh.</p>



<p>Nóng và lạnh đều là đặc tánh của nguyên tố Lửa. Nguyên tố Lửa nhiều là nóng, ít là lạnh. Ta không nên hiểu lầm rằng lạnh là đặc tánh của nguyên tố Nước và nóng là đặc tánh của nguyên tố Lửa. Nếu hiểu như vậy thì cả hai, nóng và lạnh, tồn tại chung trong một hình thể cùng một lúc.</p>



<p>NGUYÊN TỐ GIÓ (Vàyo Dhàtu )</p>



<p>Là thành phần trong vật chất có tánh di động, luôn luôn dính liền với nguyên tố lửa. Phạn ngữ Vàyo do căn nguyên Vày có nghĩa là di chuyển hay rung động. Mọi sự di chuyển mọi dung động, mọi áp lực của vật chất đều do nguyên tố Gió.</p>



<p>Chính sự chuyển động là năng lực hay là động lực phát sanh hơi nóng. Chuyển động và hơi nóng trong địa hạt vật chất có thể so sánh với Tâm và Nghiệp trong lãnh vực tinh thần.</p>



<p>Bốn nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Gió luôn luôn dính liền với nhau trong vật chất.</p>



<p>* * *</p>



<p>Trong chuyện ngụ ngôn kể trên, bốn con rắn là bốn nguyên tố cấu thành vật chất, ám chỉ tấm thân tứ đại của chúng ta.</p>



<p>Thể xác này ví như rắn độc vì nếu ta lơ đỉnh, không kiểm soát được nhục dục thì chính thân này là mối nguy cơ vô cùng tai hại vậy. Trái lại, nếu ta thận trọng xem xác thân này như những con rắn độc thì ta sẽ không bám bíu vào nó, không chú trọng đến nó, tức nhiên ta sẽ không thèm thuồng, ước mong được có một thân hình đẹp đẽ hơn, cũng không thất vọng nếu ta không có sắc đẹp. Ta sẽ không phung phí thì giờ quý báu và ít oi của ta để sửa soạn, chăm nom, săn sóc thể xác và luôn luôn cung phụng đầy đủ để thỏa mãn những sự đòi hỏi của nó. Hiểu như vậy ta sẽ hết sức cố gắng tránh xa những điều kiện nào khả dĩ tạo cho ta những con &#8220;rắn độc mới&#8221;.</p>



<p>2. NGŨ UẨN</p>



<p>Cái được gọi là chúng sanh là sự kết hợp của hai phần: Danh (Nàma) và Sắc (Rùpa).</p>



<p>Danh và Sắc cùng phát sanh một lượt và cùng phối hợp mật thiết để sinh hoạt. Kinh sách thường so sánh Danh và Sắc với hai người, một mù một què. Riêng rẽ từng người thì người mù không thấy đường, người què thiếu chân, cả hai cùng không thể di chuyển. Nhưng nếu phối hợp lại, người mù cõng người què, người què chỉ đường cho người mù thì cả hai đều di chuyển được. Cùng một thế ấy Sắc, vật chất, chỉ là vô tri vô giác. Danh là vô hình, không thể hoạt động riêng rẻ. Nhưng phối hợp lại, Danh và Sắc có thể hoạt động. Một thí dụ: muốn có sự thấy cần phải có ba yếu tố, nhãn quan, nhãn trần và nhãn thức. Mắt, vật để thấy (đối tượng của sự thấy) và thức, phối hợp hoạt động tạo nên sự thấy. Như muốn thấy cái bàn thì cần phải có cái bàn (nhãn trần), cặp mắt (nhãn quan) và nhãn thức<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[6]">&nbsp;[6]</a>.</p>



<p>Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Sắc (Rùpa) gồm các đơn vị căn bản, những năng lực (Tứ Đại) và những biến đổi, bẩm chất. Có tất cả 28 loại vật chất.</p>



<p>Danh gồm các tâm sở (Cetasika) và thức (Vinnàna)<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[7]">&nbsp;[7]</a>&nbsp;. Có tất cả 52 tâm sở. Thọ (Vedanà) là một. Tưởng (Sannà) là một tâm sở khác. 50 tâm sở còn lại được gọi chung là Hành (Sankhàra). Nơi tập trung các tâm sở ấy là thức (Vinnàna). Theo sự phân tách trên, chúng sanh là sự kết hợp của năm yếu tố gọi là Ngũ Uẩn: Sắc (Rùpa), Thọ (Vedanà), Tưởng (Sannà), Hành (Sankhàra) và Thức (Vinnàna).</p>



<p>SẮC (Rùpa), tức là vật chất.</p>



<p>Các nhà khoa học cho rằng rất khó mà định nghĩa danh từ &#8220;vật chất&#8221; một cách chính xác. Một vài triết học gia định nghĩa &#8220;Vật chất là cái gì trong đó có sự biến đổi gọi là chuyển động và sự chuyển động là các biến đổi trong vật chất (Ouspensky, Tertium organum, trang 8).</p>



<p>Trong Phạn ngữ, vật chất là Rùpa. Danh từ Rùpa do căn nguyên rup là bể ra, tiêu diệt (nasa).</p>



<p>Theo kinh Vibhàvini Tikà, Rùpa là cái gì biến hình hay có một hình thái khác do những điều kiện vật lý như nóng, lạnh v.v&#8230;</p>



<p>Theo Phật Giáo, vật chất (Rùpa = sắc) không những luôn luôn biến đổi mà còn tiêu diệt nữa (khaya &#8211; vaya). Một đơn vị vật chất chỉ tồn tại trong thời gian của 17 chập tư tưởng&nbsp;<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[8]">[8]</a>. Vật chất biến thay nhanh chóng đến nỗi ta không thể gõ trên bàn hai cái gõ hoàn toàn giống hệt nhau<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[9]">&nbsp;[9]</a>.</p>



<p>Vật chất thay đổi, thời gian thay đổi, không gian cũng đổi vì trong khoảng thời gian ấy, vị trí của ta trong không gian, theo sự xoay chuyển của quả địa cầu, cũng đã thay đổi rất nhiều.</p>



<p>Đề cập đến vật chất trong quyển sách &#8220;Ý nghĩa của đời sống&#8221; (Meaning of Life), C.E.M. Joad viết: &#8220;Như vậy thì vật chất hiển nhiên tự phân tán dưới mắt ta. Vật chất không còn ở thể đặc nữa. Không còn tồn tại bền vững nữa&#8230;&#8221;</p>



<p>Cách đây không bao lâu, nguyên tử được coi là đơn vị nhỏ nhất của vật chất, không thể phân chia được nữa và không thể tiêu diệt. Nhưng khoa học hiện đại phát minh rằng trong nguyên tử còn có điện tử, dương tử, quan tử v.v&#8230;</p>



<p>Phạn ngữ Rùpa (sắc, vật chất) có khi cũng được định nghĩa là cái gì tự, mình biểu hiện (Rùpakàsane)</p>



<p>Phật Giáo không chủ trương tìm hiểu nguồn gốc của vật chất mà xem vật chất như một vật sẵn có và dạy rằng vật chất gồm những năng lực và những bẩm chất. Những năng lực là bốn nguyên tố căn bản: Đất, Nước, Lửa, Gió, rất hùng hậu, luôn luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết. Từ vật vi tế như hột cát hột bụi cho đến vật to lớn như quả địa cầu hay các hành tinh đều do bốn nguyên tố ấy cấu thành.</p>



<p>Bẩm chất của Sắc (Rùpa) hay là những tính chất phát xuất từ Tứ Đại, gòm có 24 loại. Vậy, theo Phật Giáo, có 28 loại vật chất kể cả Tứ Đại. Năng lực và bẩm chất của Sắc (Rùpa) phát sanh cùng một lượt, cùng nhau tồn tại và trưởng thành và cũng cùng tiêu diệt một lúc.</p>



<p>Tóm tắt, vật chất gồm những năng lực và những bẩm chất luôn luôn biến đổi, không thể giữ y một trạng thái trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Vật chất chỉ tồn tại trong thời gian 17 chập tư tưởng.</p>



<p>Các nhà khoa học giải thích rằng vật chất tồn tại trong một phần rất ngắn của giây đồng hồ<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[10]">&nbsp;[10].</a></p>



<p>Theo các nhà sinh lý học, tế bào đầu tiên mà con người thọ hưởng của cha mẹ thật là vi tế, bằng phần rất nhỏ của một phân Anh&nbsp;<a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[11]">[11].</a></p>



<p>Theo kinh sách tế bào đầu tiên của con người rất vi tế, sánh như một giọt dầu vi tế dính nơi chót một sợi lông sau khi rảy bảy lần.</p>



<p>Khoảng thời gian 9 tháng trong bào thai tế bào ấy trở nên 15.000 triệu lần lớn hơn (Sir Charles Shermington, &#8220;Life Unfolding&#8221;, trang 32)</p>



<p>THỌ (Vedanã)</p>



<p>Phạn ngữ &#8220;Vedanà&#8221; do căn nguyên &#8220;Via&#8221; là kinh nghiệm. Thọ (Vedanà) phát sanh do Xúc (Phassa). Thọ là một cảm giác khách quan có ý thức nhưng không có sự hiểu biết và không có sự hình dung đối tượng. Khi sờ một vật ta ý thức rằng vật ấy nóng hay lạnh, cứng, mềm v.v&#8230; nhưng không biết vật ấy là cái gì và cũng không biết hình dáng vật ấy ra sao. Đó là Thọ (Vedanà), tức là cảm giác.</p>



<p>Cũng như Xúc (Phassa) Thọ là một tánh chất chánh yếu của tất cả các tâm. Nói một cách khác, trong các loại Tâm Vương (Citta) đều có tâm sở Thọ. Thọ có năm:</p>



<p>1. Cảm giác vui thích về tinh thần, hạnh phúc (Somanassa) như khi nhận được một tin lành, nghe một bài pháp hay v.v&#8230;</p>



<p>2. Cảm giác đau khổ về tinh thần (Domanassa), như khi nhận được tin dữ, hay nghe những lời nói hung tợn v.v&#8230;</p>



<p>3. Cảm giác khoái lạc về vật chất (Sukha) như khi dùng bữa cơm ngon, ngủ trong phòng lạnh có nệm êm v.v&#8230;</p>



<p>4. Cảm giác đau đớn về vật chất (Dukkha), thiếu tiện nghi, như ngồi chật hẹp trên một chiếc xe cũ, đi ngoài nắng, uống thuốc đắng v.v&#8230;</p>



<p>5. Cảm giác vô ký (Upekkhà), không vui, không buồn, không khoái lạc, không đau đớn. Như đi nghe Pháp mà không quan tâm đến thành ra không vui thích mà cũng không bực mình.</p>



<p>Chính Thọ thâu nhận quả lành hay dữ của những hành động trong quá khứ. Ngoài tâm sở Thọ không có một linh hồn hay một bản ngã nào hưởng quả lành hay chịu quả dữ.</p>



<p>Ta nên ghi nhận rằng đạo quả Niết Bàn là một hạnh phúc không có liên quan gì đến Thọ hết. Đức Phật dạy rằng đạo quả Niết Bàn là hạnh phúc cao thượng nhất trong các hạnh phúc (Sukha) nhưng đó không phải là sự thọ hưởng những cảm giác vui thích hay khoái lạc. Đạo quả Niết Bàn là hạnh phúc giải thoát khỏi vòng đau khổ.</p>



<p>Thọ (Vedanà) biến đổi cảnh trạng Tâm. Thọ là một năng lực có thể nâng đỡ mà cũng có thể hủy hoại đời sống. Hạnh phúc nâng đỡ, sự đau khổ làm trở ngại đời sống. Vậy, Thọ thủ một vai trò quan trọng trong đời sống con người.</p>



<p>Ý thức được hương vị của một vật là tác dụng của Thọ (Vedanà). Cảm giác hạnh phúc hay khoái lạc làm cho ta ưa thích. Cảm giác đau khổ làm cho ta ghét. Sự ưa thích hay ghét bỏ phần nhiều tùy thuộc nơi ngoại cảnh và đến với ta một cách hồn nhiên. Thí dụ như nằm trên nệm ta ý thức được sự êm dịu và ưa thích nằm nệm. Còn đi ngoài trời trưa nắng ta nghe nóng bức và ghét, khó chịu. Sự ưa thích nằm nệm cũng như sự ghét đi ngoài nắng tùy thuộc nơi ngoại cảnh và đến với ta một cách hồn nhiên, máy móc, không có sự suy luận.</p>



<p>Tuy nhiên, đôi khi ý chí của một người có thể áp đảo ảnh hưởng của ngoại cảnh và quyết định được Thọ. Thí dụ như gặp một người thù nghịch thường ta có cảm giác không vui. Nhưng một người hiểu biết chánh đáng trái lại, rải tâm Từ của mình đến người thù ấy và tự nhiên hưởng được cảm giác hạnh phúc.</p>



<p>Nhà hiền triết Hy Lạp Socrate xưa kia, bị bắt buộc phải uống thuốc độc, cạn ly độc dược một cách vui vẻ và vui vẻ nhận cái chết.</p>



<p>Một vị Bà la Môn, một hôm nọ, mắng chửi Đức Phật thậm tệ. Nhưng Đức Phật thản nhiên. Ngài rải tâm Từ đến người ấy để đáp lại những lời nguyền rủa.</p>



<p>Vị đạo sĩ Khantivàti mặc dầu bị hành hung tàn nhẫn, vẫn thành thật ước mong cho ông vua say rượu ác độc đã ra lịnh hại Ngài được sống lâu và khỏi bị quả dữ của hành động ấy.</p>



<p>Trái lại, một người ngoại đạo cuồng tín có thể có những tư tưởng thù hận khi gặp Đức Phật. Cảm giác của người ấy lúc đó là đau khổ mặc dầu ngoại cảnh đáng lẽ phải tạo cảm giác hạnh phúc, cũng như một Phật tử cuồng tín có thể có những cảm giác tương tợ khi gặp giáo chủ của một tôn giáo khác. Một vật thực rất bổ ích cho người này có thể gây tai hại cho người khác. Khoái lạc vật chất thường được người đời ưa thích và yêu chuộng nhưng đối với nhà tu ẩn sĩ có trí tuệ, đó chỉ là những trở ngại trên đường thu hành và sẵn sàng từ khước đời sống sung túc để tình nguyện sống nghèo nàn và cô độc. Thật vậy, thiên đàng của một hạng người có thể là địa ngục cho một hạng người khác. Chính chúng ta tạo thiên đàng cho ta, chính chúng ta tạo địa ngục cho ta. Và, ít nhiều, chính Tâm tạo tác tất cả.</p>



<p>TƯỞNG (Sannà)</p>



<p>Phạn ngữ Sannà do hai căn nguyên&nbsp;<em>Sam</em>&nbsp;và&nbsp;<em>Na</em>&nbsp;là hiểu biết (giống như chữ la-tinh cognoscere)</p>



<p>Đặc tánh của Tưởng (Sannà) là nhận thức một vật nhờ dấu hiệu riêng. Tỷ như khi có cảm giác lạnh và mềm ta biết là nước. Sự nhận ra nước là Tưởng. Chính do Tưởng (Sannà) mà, xuyên qua lục căn và thức, ta nhận ra một vật đã từng biết rồi.</p>



<p>Anh thợ mộc muốn tạo một cái sườn nhà phải chuẩn bị dọn cây, cây nào làm cột, cây nào làm đòn dông, cây nào là kèo v.v&#8230; rồi đánh dấu trên những khúc ấy. Đến khi ráp, anh nhìn vào những dấu hiệu ấy. Sự nhận ra những dấu hiệu trên các khúc gỗ là Tưởng (Sannà).</p>



<p>Vậy Tưởng (Sannà) là tri giác, tức là sự nhận thức một vật như cây cối, nhà cửa, bàn ghế v.v&#8230; khi giác quan bị kích thích.</p>



<p>Để hiểu danh từ Tưởng (Sannà) rõ ràng hơn, ta thử so sánh ba Phạn ngữ Sannà (Tưởng), Vinnàna (Thức) và Pannà (Trí Tuệ).</p>



<p>Một em bé thấy một đồng tiền. Nhờ màu trắng, hình tròn và kích thước của vật thấy, em biết đó là một đồng tiền. Nhưng không biết giá trị của đồng tiền ấy. Đó là Tưởng (Sannà), chỉ nhận ra một vật đã biết rồi mà thôi.</p>



<p>Một người lớn, thấy đồng tiền thì phân biệt đồng ấy với những đồng khác, biết đó là một đồng bạc và biết rằng với đồng bạc ấy có thể mua một cái bánh. Nhưng anh không biết đồng tiền ấy làm bằng những chất gì. Đó là Thức (Vinnàna).</p>



<p>Một người rành về hóa học phân tách đồng tiền ấy, biết tận tường những loại kim khí nào đã được dùng để làm ra đồng tiền ấy và mỗi kim khí có đặc tánh nào v.v&#8230; Đó là Trí Tuệ (Pannà).</p>



<p>HÀNH (Sankhàra)</p>



<p>Sankhàra là một Phạn ngữ có rất nhiều nghĩa. Trong Thập Nhị Nhân Duyên (Paticca Samuppàda) danh từ Hành (Sankhàra) là tất cả những hành động có tác ý, những tư tưởng tốt và xấu.</p>



<p>Để chỉ những gì chịu biến đổi, đau khổ v.v&#8230; thì danh từ Sankhàra là &#8220;pháp hữu lậu&#8221;, những gì có một hoặc nhiều nguyên nhân tạo điều kiện để phát sanh.</p>



<p>Kể như một trong năm uẩn (Pancà Khanda) Hành (Sankhàra) là danh từ gọi chung 50 trong 52 tâm sở. Hai tâm sở kia là Thọ và Tưởng.</p>



<p>THỨC (Vinnàna)</p>



<p>Thức nơi tụ hội các tâm sở, là sự hiểu biết, sau Thọ và Tưởng. Trong Ngũ Uẩn, kinh sách thường ví Sắc như cái nồi để nấu cơm, Thọ như gạo, Tưởng như các món gia vị như cà ri, Hành như người nấu ăn và Thức như người ăn.</p>



<p>* * *</p>



<p>Tóm tắt, năm yếu tố, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức phối hợp lại cấu thành cái được gọi là chúng sanh. Nói một cách khác, con người cấu thành do Ngũ Uẩn tức là do Danh và Sắc, phần tinh thần và phần vật chất.</p>



<p>Vật chất gồm những năng lực và những bẩm chất luôn luôn biến đổi, không thể tồn tại trong hai khoảnh khắc kế tiếp.</p>



<p>Phần tinh thần, tâm, là sự ý thức một việc. Ngoài ra không có một cá nhân hay một linh hồn nào điều khiển các hành động. Tâm gồm những tâm sở nhất thời, sanh rồi diệt, vô cùng nhanh chóng. Tâm cũng như một dòng sông bắt nguồn từ chỗ sanh chảy một mạch ra cửa biển, là chỗ chết, luôn luôn thâu nhận những luồng nước từ các rạch ngòi của lục căn chảy đến.</p>



<p>Ta nên ghi nhận rằng tâm không phải là sự nối tiếp liên tục của những chập tư tưởng riêng biệt không liên quan với nhau, như những vòng khoen trong một sợi lòi tói.</p>



<p>Mỗi chập tư tưởng luôn luôn đổi mới của đời sống tinh thần, trước khi diệt, chuyển tất cả năng lực cùng với tất cả những ấn tượng đã thâu nhận cho chập tư tưởng kế. Như vậy, một chập tư tưởng gồm có những tiềm năng do chập trước chuyển sang và những gì khác nữa. Chập tư tưởng sau không hoàn toàn khác chập trước mà cũng không hoàn toàn giống.</p>



<p>Bởi vì tất cả những ấn tượng đều được thâu nhận trong một cái tâm luôn luôn đổi mới và bởi vì tất cả tiềm năng của chập tư tưởng trước đều được chuyển sang chập sau, từ kiếp này đến kiếp kế, mặc dầu vật chất đã tan rã, ta có thể giải thích được tại sao người trong một kiếp có thể nhớ được những sự kiện đã xảy ra trong một kiếp trước. Nếu trí nhớ chỉ do nơi bộ óc vật chất thì làm thế nào giải thích được sự kiện đó.</p>



<p>Cũng như điện, tâm là một năng lực có thể xây dựng mà cũng có thể tàn phá. Tâm là một loại khí giới có thể dùng trong việc lành cũng như trong điều ác. Chỉ một tư tưởng, dầu vô hình, cũng có thể cứu vãn hay tiêu diệt thế gian. Chính tâm tạo thiên đàng. Cũng chính tâm tạo địa ngục.</p>



<p>3. NGƯỜI BẠN THÂN</p>



<p>Bản ngã là gì? Người bạn chí thân trở mặt làm thù, rượt theo bắt tên tội nhân tượng trưng cái gọi là bản ngã của chúng sanh.</p>



<p>Vậy, bản ngã là gì? Cái mà chúng sanh chấp là &#8220;Ta&#8221; là gì?</p>



<p>Nhìn mặt bàn với cặp mắt thường ta thấy trơn láng. Nếu nhìn mặt bàn ấy xuyên qua kính hiển vi thì ta không còn thấy nó trơn láng nữa mà những sớ cây nổi lên ghồ ghề, có góc có cạnh. Bây giờ, nếu dùng một ống kính hiển vi thật mạnh để nhìn mặt bàn ta sẽ không thấy những sớ cây nữa mà dưới mắt ta là sông, núi, rạch ngòi, thung lũng, đồng bằng v.v&#8230; Cả ba trạng thái của mặt bàn đều là thực tế vì chính mắt ta chắc chắn đã trông thấy. Vậy ta phải tin thế nào?</p>



<p>Cũng cái bàn ấy, đối với nhà khoa học, chỉ là sự phối hợp những nguyên tử, điện tử, dương tử, quan tử v.v&#8230;</p>



<p>Một cách ước định, ta nói rằng mặt bàn trơn láng vì mọi người, với cặp mắt thường đều nhận thấy như vậy.</p>



<p>Cùng một thế ấy, Đức Phật dùng những danh từ ước định thông thường như người, thú, bàn, ghế v.v&#8230; trong tạng Luật và tạng Kinh. Nhưng khi phân tách tỷ mỷ những yếu tố cấu thành con người thì Đức Phật chỉ còn thấy những năng lực, những bẩm chất, những cảm giác, tri giác v.v&#8230; luôn luôn biến đổi, cũng như nhà khoa học, trong phòng thí nghiệm không còn thấy nước là nước mà chỉ thấy hai phần Hydro và một phần Oxy (H2O).</p>



<p>Ta nhận thức sự vật xuyên qua ngũ quan và tìm cái gì ngũ quan thâu nhận. Một em bé thường ngày thấy mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn về hướng Tây thì tin chắc chắn rằng mỗi sáng mặt trời mọc lên và mỗi chiều lặn xuống. Nếu có ai bảo em bé rằng không phải mặt trời mọc và lặn mà chính quả địa cầu chuyển động quay tròn và vòng quanh mặt trời thì em bé sẽ cười và không tin.</p>



<p>Bậc thánh nhân đã diệt mọi ảo kiến và thấy chân tướng sự vật.</p>



<p>Đức Phật dạy rằng phân tách đến mức cùng tột thì không thể có một bản ngã trường tồn bất biến. Mọi yếu tố cấu thành con người đều ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi. &#8220;Không có người làm mà chỉ có việc làm&#8221;. Không có người thấy mà chỉ có sự thấy. Tóm tắt con người chỉ là sự phối hợp của năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong con người không có cái chi có thể gọi là một bản ngã vững bền tồn tại, không biến đổi.</p>



<p>Về điểm này triết học gia Descartes có viết &#8220;Cogito, Ergo Sum&#8221;, tôi suy tưởng, tức là có tôi. Nhà triết học Pháp căn cứ luận lý của ông trên sự &#8220;tôi suy tưởng&#8221; nhưng không chứng minh rằng có cái &#8220;Tôi&#8221; để suy tưởng.</p>



<p>Trên 2500 năm sau Đức Phật, triết gia William James cũng có một quan điểm như Phật Giáo. Ông chủ trương &#8220;Không có người suy tưởng mà chỉ có sự suy tưởng&#8221;.</p>



<p>Theo Phật Giáo cái bản ngã hay là cái Ta chỉ là sự kết hợp của những yếu tố luôn luôn biến đổi. Ngoài ra không có cái gì có thể gọi là một linh hồn vĩnh cửu hay một bản ngã trường tồn. Phật Giáo không nhìn nhận có những nguyên do huyền bí tạo nên một bản ngã bất diệt.</p>



<p>Về điểm này ta nên phân biệt thuyết tái sanh của Phật Giáo với thuyết &#8220;đầu thai&#8221; tức là sự thoát xác của một linh hồn để nhập vào một xác khác cũng như người bỏ một căn nhà cũ nát để ở trong một căn nhà mới.</p>



<p>Một linh hồn trường cửu tất nhiên phải bất biến. Nếu có một linh hồn bất diệt làm bản ngã cốt yếu của con người thì tất nhiên linh hồn ấy không phát sanh, không biến đổi và cũng không tiêu diệt. Ngoài ra ta cũng không thể hiểu tại sao từ lúc mới tạo ra, các linh hồn lại khác biệt với nhau dường ấy.</p>



<p>Quan sát đến mức cùng tột người Phật tử hiểu biết không thể quan niệm được một linh hồn bất biến bên trong một vị Chư Thiên, trong con người hay trong một loài cầm thú nào. Những hình thể người, thú hay Chư Thiên chỉ là sự biểu hiện bề ngoài của luồng Nghiệp lực. &#8220;Chúng sanh&#8221; chỉ là một khái niệm và danh từ người, thú, hay Chư Thiên chỉ là một sự ước định. Nói một cách chính xác, chúng sanh chỉ là sự phối hợp của Danh và Sắc.</p>



<p>Để biện minh rằng có đời sống tối đại hạnh phúc trên một thiên đàng trường cửu và có những cực hình vô tận trong một địa ngục vĩnh viễn, một linh hồn bất di bất dịch là tối cần. Nếu không có một linh hồn trường tồn bất diệt thì cái gì làm tội trên thế gian và cái gì phải chịu khổ hình ở địa ngục?</p>



<p>Nhà học giả trứ danh, ông Bertrand Russel có viết: &#8220;Đúng lý ra ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác từ lâu đã tiêu tan như mây khói vì vật chất đã mất dần đặc tánh cứng rắn và vững bền, mà linh hồn cũng đã mất một phần thần tính của nó. Tâm Lý</p>



<p>Học vừa bắt đầu trở thành một ngành khoa học và trong tình trạng hiện hữu của Tâm Lý Học sự tin tưởng nơi một linh hồn trường cửu không thể đòi hỏi khoa học tán trợ.</p>



<p>Theo nhà học giả uyên bác, tác giả quyển &#8220;The Riddle of Universe&#8221; (Sự bí ẩn của vũ trụ) &#8220;Biện chứng Thần Linh Học chủ trương có một đấng Tạo Hóa thổi vào con người một linh hồn bất diệt (linh hồn của con người thường được xem là một phần của một Đại hồn của tạo hóa). Đó là một câu chuyện thần thoại.</p>



<p>&#8220;Biện chứng Vũ Trụ Luận cho rằng muốn tạo một thế gian điều hòa trong vòng trật tự tinh thần đạo đức cần phải có một linh hồn trường tồn bất diệt. Đó là một giáo điều vô căn cứ.</p>



<p>&#8220;Biện chứng Chung Quả Luận chủ trương rằng do sự tiến triển không ngừng của con người để cải thiện vận mạng mình những khuyết điểm của linh hồn phải được cải tiến mãi mãi trong đời sống và sau kiếp sống. Đó là một lối hiểu sai lầm của Sinh thuyết Vật Đồng Nhân (Anthropomorphisme) cho rằng tất cả sinh vật đều có những hành động và tư tưởng như người.</p>



<p>&#8220;Theo biện chứng Đạo Đức Luận những khuyết điểm và những tham vọng chưa được thỏa mãn trong đời sống phải được bổ khuyết và đền bù một cách công bình và vĩnh viễn sau đời sống. Đó chỉ là một điều mong ước cuồng nhiệt.</p>



<p>&#8220;Biện chứng Nhân Chủng Luận cho rằng sự tin tưởng nơi tính cách bất diệt của linh hồn cũng như sự tin tưởng nơi một đấng Tạo Hóa là một chân lý cố hữu trong toàn thể nhân loại. Đó hiển nhiên là một sai lầm.</p>



<p>&#8220;Biện chứng Bản Thể Luận chủ trương rằng linh hồn đã là một thực thể vô hình và bất khả phân chia tất không thể bị liên quan đến sự vong hoại do cái chết gây ra. Điều này căn cứ trên quan niệm sai lạc của hiện tượng tâm linh một ảo mộng của Duy Thần Luận.</p>



<p>&#8220;Tất cả những biện chứng kể trên cũng như tất cả những giả thuyết tương tợ về bản ngã đã lâm vào tình trạng nguy ngập trong vòng mười năm nay và đã bị khoa học chỉ trích và bác bỏ hoàn toàn&#8221;.</p>



<p>Một nhà bác học khác, ông Hume, sau khi gia công tìm kiếm một linh hồn bất diệt đã viết trong quyển &#8220;Religion and Science&#8221; (Tôn Giáo và Khoa Học) như sau: &#8220;Có vài triết gia tưởng tượng rằng trong mỗi chập tư tưởng chúng ta mật thiết nhận thức cái gọi là Ta và chúng ta cảm giác rằng cac &#8220;Ta&#8221; có thật và thật sự tồn tại. Các triết gia ấy, ngoài sự hiển nhiên của mọi luận chứng, cũng quả quyết rằng cái Ta hoàn toàn không biến đổi và không thể phân chia.</p>



<p>&#8220;Riêng về phần tôi, khi thâm nhập mật thiết vào cái mà tôi gọi là &#8220;Tôi&#8221; thì luôn luôn tôi vấp phải một cảm giác đặc biệt như nóng hay lạnh, sáng hay tối, thương hoặc ghét, vui hoặc buồn, sáng hay tối, thương hoặc ghét, vui hoặc buồn. Tôi chưa từng bắt được cái &#8220;Tôi&#8221; ngoài những cảm giác ấy và tôi chưa hề chiêm nghiệm được cái gì ngoài cảm giác&#8230;&#8221;</p>



<p>Về vấn đề linh hồn, Giáo sư William James có viết trong quyển &#8220;Principles of Psychology&#8221; (Những Nguyên Tắc về Tâm Lý Học trang 351) &#8220;&#8230; Cái Ta (dùng như một túc từ, complément) là một sự kết hợp do kinh nghiệm cấu tạo với sự vật đã được biết một cách khách quan. Vậy cái Ta (dùng như một chủ từ sujet) biết được sự vật ấy không thể là một sự kết hợp. Không thể dùng cái Ta ấy trong những mục tiêu thuộc về Tâm Lý và xem nó như một thực thể siêu hình không biến đổi, một linh hồn trường tồn bất biến. Cũng như không thể xem nó như một nguyên lý, một bản ngã siêu việt vượt ra ngoài thời gian. Cái &#8220;Ta&#8221; chỉ là một tư tưởng biến đổi từng chập. Không một tư tưởng nào giống chập tư tưởng trước kế đó, nhưng luôn luôn thuận ứng theo chập tư tưởng trước để cùng chung hợp lại thành một tư tưởng riêng biệt&#8221;.</p>



<p>Trên hai ngàn năm trăm năm về trước Đức Phật Gotama đã từng thuyết minh những điều này khi ngài châu du hoằng pháp trong lưu vực sông Hằng (gange).</p>



<p>Phật Giáo dạy một thứ Tâm Lý Học trong đó khong có tâm linh. Phật Giáo giải thích rằng con người do Danh (Nàma) và Sắc (Rùpa) cấu tạo và hai phần này ở trong một trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối trường lưu bất tức.</p>



<p>Để cho mọi người được hiểu dễ dàng, đôi khi Đức Phật gọi toàn thể tiến trình của những hiện tượng tâm vật lý ấy là cái Ta (Atta) vì đó là một danh từ ước định đã được thông dụng. Thực ra trong biến đổi của danh và sắc chỉ có sự tiến trình là đồng nhất (không biến đổi) mà không có vật đồng nhất (không có cái chi là trường tồn bất biến).</p>



<p>* * *</p>



<p>Về mặt tâm lý học, thuyết vô ngã (Anatta) là một chân lý. Đứng về phương diện luân lý thuyết ấy là một lợi ích quan trọng.</p>



<p>Bao nhiêu tội lỗi đã gây ra chỉ vì ta chấp ngã. Ta luôn luôn nói rằng đây là Ta cái này &#8220;Của Ta&#8221;và tận dụng tất cả năng lực và thì giờ để phụng sự cái &#8220;Ta&#8221;. Cái nào thuận chiều với nó thì ta luyến ái tức là tham (Lobha). Vật nào hay sự việc nào nghịch lại thì ta bất mãn tức là Sân (Dosa). Tham với Sân vì bị lớp Si (Moha) bao phủ như đám mây mờ. Ta nhận ảo là thực, chấp cái ta huyền ảo và luôn luôn biến đổi là một thực thể trường tồn.</p>



<p>Theo Phật Giáo, Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả tội lỗi. Vi Diệu Pháp dạy rằng hành động ác là những hành động do các loại tâm bất thiện (Akusala citta) làm động cơ thúc đẩy. Và tâm bất thiện là những loại tâm bắt nguồn từ Tham (Lobha), Sân (Dosa) và Si (Moha). Vì thế người Phật tử phải luôn luôn chiến đấu để diệt cái &#8220;Ta&#8221; cái ngã chấp.</p>



<p>&#8220;Hãy dứt bỏ cái gì không phải của con.<br>&#8220;Sự dứt bỏ ấy sẽ đem lại cho con Hạnh Phúc và An Vui.<br>&#8220;Cái gì không phải của con?<br>&#8220;Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức không phải của con.<br>&#8220;Con hãy dứt bỏ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức<br>&#8220;Đó là một sự dứt bỏ sẽ tạo cho con Hạnh Phúc và An Vui&#8221;<br>&#8212; Tạp A Hàm, XXII, 33<strong><strong></strong></strong></p>



<p>4. LỤC CĂN VÀ LỤC TRẦN<strong></strong></p>



<p>Sáu cái nhà bỏ không trong làng là Lục Căn. So sánh như vậy vì khi người trí tuệ quan sát ngũ quan và cái tâm của mình thì chỉ thấy sự trống không. Không dấu vết nào của một cái gì &#8211; vật chất hay tinh thần &#8211; có thể gọi là của mình. Không thể tìm ra một linh hồn hay một yếu tố nào vững bền tồn tại, khả dĩ gọi là bản ngã.</p>



<p>Lục căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Nên hiểu rằng nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, v.v&#8230; ở đây không có nghĩa là con mắt hay lỗ mũi bằng da bằng thịt v.v&#8230; Nhãn đây là nhãn căn nhãn quan, phần nhạy trong con mắt, cái khả năng thấy trong con mắt. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng thế. Ý ở đây có nghĩa là nơi xuất phát ra tư tưởng.&nbsp;<em><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#[12]">[12]</a></em></p>



<p>Tất cả chúng sạnh trong dục giới (Kàmaloka) đều có đủ lục căn, trừ hững người câm, điếc, mù từ lúc lọt lòng mẹ.</p>



<p>Theo Vi Diệu Pháp, chúng sanh trong sắc giới (Rùpaloka) không có tỷ căn, thiệt căn và thân căn. Như vậy có nghĩa là các vị ấy cũng có mũi, lưỡi và thân nhưng không có khả năng hửi, nếm và xúc vì các Ngài, ở trên một tầng cao, đã diệt trừ mọi luyến ái trong dục giới (Kàmaraga). Tuy nhiên các Ngài vẫn còn nhãn căn và nhĩ căn để dùng trong các việc thiện.</p>



<p>Chúng sanh trong vô sắc giới, vì không có sắc, không có lục căn. Do ý chí của các Ngài và năng lực của Thiền, tâm các Ngài không cần phải nương tựa nơi một loại sắc nào để tồn tại.</p>



<p>Sáu tên cướp chạy vào làng lùng bắt tên tội là Lục Trần. Lục căn luôn luôn bị lục trần xâm nhập và lôi cuốn.</p>



<p>Lục trần là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.</p>



<p>Sắc (Rùpa) là đối tượng của sự thấy, vật thấy, cái gì có hình thể mà mắt nhận thấy được. Nói một cách khác, sắc là nơi nương tựa, phạm vi, khu vực có màu, là hiện thân của màu sắc.</p>



<p>Thinh (Sadda), âm thanh, hay là tiếng động, phát sanh do sự cọ sát của yếu tố đất trong vật chất.</p>



<p>Hương (Gandha) và Vị (Rasa) phát sanh do cả bốn yếu tố của vật chất (Tứ Đại).</p>



<p>Xúc (Phottobbàrammana) là vật có thể sờ đụng được (tangible), là đối tượng của thân căn. Nên ghi nhận rằng xúc (phottabbàrammana) không phải chỉ là sự đụng chạm (contact). Trong vật chất, ba yếu tố Đất, Lửa, Gió có thể sờ đụng được. Ngũ quan không thâu nhận được nguyên tố Nước.</p>



<p>Pháp (Dhammàrammana) là tất cả những đối tượng của tâm. Pháp (Dhamma) có thể là những hiện tượng vật chất hay tinh thần.</p>



<p>Tên cướp thứ nhất là Sắc. Đức Phật dạy rằng trên đời không có chi làm cho tâm một người đàn ông rung động bằng hình dáng của người đàn bà. Và không có chi làm cho tâm một người phụ nữ rung động bằng hình dáng của người đàn ông.</p>



<p>Rất khó mà kiểm soát và thu thúc được nhãn căn vì bao nhiêu hình sắc đẹp đẽ của ngoại cảnh luôn luôn sẵn sàng làm cho ta xao xuyến. Lịch sử nhân loại đã chứng tỏ rằng bao nhiêu cơ đồ đã sụp đổ và bao nhiêu công nghiệp đã phải suy tàn chỉ vì sắc đẹp. Kinh sách có ghi lại chuyện tích một vị Bồ Tát đã đắc được nhiều thần thông, chỉ vì không tự kềm chế được, để tâm rung động trước hình dáng một phụ nữ mà bao nhiêu công đức tu tập phải tiêu ban như bọt nước. Chuyện kể ra như sau:</p>



<p>Một vị Bồ Tát kia đã đắc được nhiều thần thông, thường ngày được vua thỉnh vào cung điện để dâng cúng vật thực. Một hôm, từ xa đằng vân tới hoàng thành, vừa hạ xuống hậu cung, Bồ Tát chợt thấy Hoàng Hậu từ phòng tắm bước ra chỉ khoác một tấm choàng mỏng. Bất hạnh cho Bồ Tát, trong một phút xúc động đã mất hết các phép thần thông.</p>



<p>Ta nên ghi nhớ rằng đây là một câu chuyện xảy đến, không phải cho một người thường, mà cho một vị Bồ Tát là người đã trong sạch phát tâm tự nguyện cố gắng trở thành một vị Phật. Đã là Bồ Tát và có nhiều thần thông Ngài hẳn đã vượt qua năm chướng ngại tinh thần (Nivaranà) mà còn phải bị sa ngã trước hình dáng yêu kiều của một phụ nữ. Vậy chúng ta, còn phàm phu, phải hết sức cố gắng kềm chế nhãn căn.</p>



<p>Cũng vì lẽ ấy mà Đức Phật hằng khuyên nhủ hàng tín đồ nên luôn luôn thận trọng từng ly từng tý trong việc kiểm soát nhãn quan, như người lính gác cửa thành từng giây từng phút canh chừng quân địch. Một khoảnh khắc lơ đỉnh có thể ảnh hưởng rất tai hại. Bởi thế ai là cha mẹ thầy cô, những người có trách nhiệm dạy dỗ trẻ em, phải hết sức chú trọng đến vấn đề nam nữ và luôn luôn ngăn ngừa hậu quả của sự thân cận giữa đôi bên, người Phật tử thuần thành cũng phải thận trọng kiểm soát mọi Ái Dục phát sanh do nhãn quan.</p>



<p>Tuy nhiên, Đức Phật không khi nào cố ý khuyên tất cả chúng ta từ khước mọi lạc thú vật chất để vào rừng tìm nơi thanh vắng tu hành.</p>



<p>Chúng ta không tìm cách xa lánh những hạnh phúc vật chất, tuy là tạm bợ nhưng cũng không làm nô lệ cho thể xác. Ta cảm thấy có hạnh phúc khi một điều mong mỏi được thỏa mãn. Nhưng bản chất của chúng sanh là không khi nào biết là đủ. Được thỏa mãn một điều là mong muốn điều khác, không khi nào hoàn toàn mãn nguyện. Bởi thế ta cần phải cố gắng luôn luôn giữ tâm trong sạch và thận trọng thu thúc dục vọng.</p>



<p>Một tích chuyện ghi rằng một ni cô đang hành thiền trong rừng. Một người đàn ông đi ngang qua, thấy ni cô phải lòng, mãi theo ve vãn dụ dỗ, Ni cô hỏi: &#8220;Tại sao ông lại thương tôi?&#8221;</p>



<p>&#8211; &#8220;Vì Ni cô có cặp mắt hết sức đẹp&#8221;. Người đàn ông trả lời.</p>



<p>Ni cô liền thò tay móc tròng mắt ra, đặt trong lòng bàn tay, đưa cho người đàn ông và nói: &#8220;Đây là con mắt của tôi, ông còn thấy đẹp nữa không?&#8221;.</p>



<p>Muốn giảm bớt bám bíu vào hình sắc chúng ta nên niệm về sự ô trược của thể xác là một phương pháp rất hiệu nghiệm. Quán tưởng thấy xác thân cấu hợp bởi một bộ xương, nhiều bắp thịt đắp bên ngoài, tất cả bao bọc trong một lớp da mỏng. Thật không đáng cho ta quý mến chút nào. Vào thời Đức Phật có nhiều vị Tỳ Khưu đã đắc quả A La Hán nhờ tham thiền với đề mục này.</p>



<p>Một hôm có vị Tỳ Khưu vừa đi bên đàng vừa quán tưởng đề mục xương. Một người phụ nữ mới giận chồng đi ngược chiều, gặp vị Tỳ Khưu lại hả miệng cười. Một chập sau chồng của cô chạy theo tìm cô, thấy vị Tỳ Khưu đi bên đàng thì dừng lại lễ phép hỏi có thấy một người đàn bà đi trên đường này không. Vị Tỳ Khưu thản nhiên trả lời: &#8220;Bần tăng không đặng rõ là đàn bà hay đàn ông, bần tăng chỉ thấy có một đống xương vừa đi qua&#8221;.</p>



<p>Vị Tỳ khưu trả lời như vậy vì trong lúc quán tưởng đề mục xương, mắt vừa thấy hàm răng thì ấn tượng của toàn thể bộ xương của người phụ nữ phát sanh ra trong nhãn thức ngay.</p>



<p>Mắt bị rung động vì hình sắc, thì tai bị cảm xúc vì âm thanh, mũi bị kích thích vì hương, lưỡi vì vị. Về điểm này ta cũng nên hết sức thận trọng vì mùi ngon ngọt của những vật thực có chất độc, chất say như rượu mạnh, thuốc phiện v.v&#8230; Một vài hớp rượu mạnh không phải là một trọng tội, tuy nhiên đó là một khởi điểm nhỏ nhen để đưa ta đến thói quen chấm chút có chừng mực và cuối cùng tha hồ say sưa vô đội. Một câu chuyện ngụ ngôn thuật lại như sau:</p>



<p>Một chàng kia, sau khi ăn học thành tài, từ phương xa về quê nhà, đi ngang qua một thành phố nọ, nghe tiếng đồn có một đền đài vô cùng đẹp đẽ, bên trong lại có nhạc kịch tuyệt trần. Anh lần mò tìm đến và xin vào. Ở một cửa nọ người ta bảo anh rằng muốn vào chỉ cần phải giết một con vật sẵn có phía trong. Anh nghĩ thầm: &#8220;Xem cung điện và nghe âm nhạc thì rất là thích thú, nhưng phải giết một sinh mạng để mua vui thì anh không đành&#8221;. Anh tìm đến cửa khác thì được biết rằng muốn vào phải trộm cắp. Anh không chịu. Qua cửa thứ ba, người ta buộc anh làm điều tà dâm, cửa thứ tư phải nói dối. Anh cũng từ chối luôn. Cửa thứ năm, nhỏ hơn các cửa kia, anh được biết rằng muốn vào phải uống rượu. Anh không chịu. Nhưng người gác cửa nài nỉ rắng uống chút rượu thì cũng không hại gì mà được xem cung điện và nghe âm nhạc thì thật là thú vị và mời anh nếm một giọt thôi. Anh nghĩ thầm: &#8220;Uống rượu là một tật xấu, nhưng nếm thử một giọt nghĩ cũng không đến đỗi là một lỗi lầm trọng đại. Ta hãy thử nếm một chút xem sao&#8221;. Anh chàng liền bằng lòng nếm thử. Thấy ngon và không có chi hại, anh liền nhắm một hớp, rồi một hớp nữa. Ngon miệng anh uống một hơi quá chén, và đến lúc bấy giờ thì, mất bình tĩnh, kém sáng suốt, không tự kềm chế được, anh hăng hái lần lượt làm những điều xấu xa mà trước kia anh đã can đảm quyết tâm từ chối. Anh phạm bao nhiêu lỗi lầm chỉ vì xem thường một giọt rượu.</p>



<p>Thân của ta cũng là một nhịp cầu để cho ngoại trần xâm nhập và làm cho ta say mê, sa đọa.</p>



<p>Tâm cũng bị ảnh hưởng của những tư tưởng xấu xa.</p>



<p>5. BỐN DÒNG NƯỚC LŨ</p>



<p>Chúng sanh bị lôi cuốn trong bốn dòng nước lũ (Oghà) hùng mạnh và xoay tròn thành một cái xoáy vĩ đại, vô cùng nguy hiểm, tràn ngập ba giới bốn loài.</p>



<p>Bốn dòng nước ấy là:</p>



<p>&#8211; Tham Dục (Kàma),<br>&#8211; Bám bíu vào đời sống (Bhàva),<br>&#8211; Kiến (Ditthi), và<br>&#8211; Vô Minh (Avijja).</p>



<p>Bốn dòng nước lũ này nhận chìm và lôi cuốn chúng sanh vào khổ cảnh.</p>



<p>Dòng nước lũ đầu tiên là Tham Dục (Kàma), Sự thỏa thích, ham muốn, luyến ái, đeo níu theo nhục dục ngũ trần.</p>



<p>Phần trên đã đề cập đến mối nguy cơ của sự dễ duôi để cho lục trần lôi cuốn. Trong kinh (Potaliya Sutta, M. 54) Đức Phật so sánh lòng tham dục với:</p>



<p>1. Một khúc xương khô, không dính chút thịt, không còn chút máu mà người ta vứt cho con chó đói. Chó gậm xương mà vẫn đói. Cùng một thế ấy chúng sanh đeo níu theo nhục dục nhưng không được thỏa mãn.</p>



<p>2. Một miếng thịt mà những loại chim như kên kên, quạ, ó, cắn đá nhau để dành ăn. Nếu một con ngậm được mà dành lấy một mình thì những con kia bay lại vừa mổ vừa đá, không chết thì cũng chịu đau đớn. Lòng tham dục cũng đưa chúng sanh vào những cuộc cạnh tranh huynh đệ tương tàn như vậy thật vô cùng nguy hiểm.</p>



<p>3. Một cây đuốc cháy để phía trên gió. Nếu không cẩn thận chạy tránh thì ắt bị tàn đuốc bay đến làm phỏng da. Cũng dường thế ấy, tham dục đốt cháy những ai không chịu suy tưởng, không thận trọng chạy tránh, nhắm mắt lao mình vào những khoái lạc vật chất với lòng tin tưởng rằng nó sẽ đem lại ánh sáng và hạnh phúc.</p>



<p>4. Một hầm than đang cháy đỏ, và chúng sanh như người kia, bị đám người khác kéo lôi đến. Nếu không mau chân chạy thoát đám người hung tợn nọ thì ắt bị xô đẩy vào hầm lửa. Tham dục không khác nào một bể lửa khổng lồ (Mahàbhitàba) và nạn nhân là những ai bị lục trần lôi cuốn. Lòng tham dục đưa chúng sanh đến sự tái sanh trong khổ cảnh.</p>



<p>5. Một giấc mộng đẹp. Nằm mơ thấy phong cảnh đẹp đẽ hữu tình. Lòng nhẹ nhàng khoan khoái. Nhưng khi tỉnh giấc, cảnh đẹp đều tan đâu mất. Cùng một thế ấy, tham dục là một ảo kiến ngắn ngủi (Ittarapaccupathàna), không khác một giấc mộng. Khi tỉnh giấc mơ, trở về với thực tế, với những lo âu, phiền não hằng ngày, nạn nhân lấy làm thất vọng và đau khổ.</p>



<p>6. Một món đồ vay mượn mà người cuồng sĩ lấy làm hãnh diện khoe khoang với hàng xóm láng giềng. Khi món đồ bi đòi lại thì người hàng xóm chỉ coi anh là người nói khoác. Tham dục là lòng ham muốn những thú vui tạm bợ, huyền ảo.</p>



<p>7. Một trái cây. Chàng kia thèm thuồng, trèo cây bẻ trái. Một người khác, cũng ham muốn trái ấy mà không trèo được, sanh lòng ganh tỵ, chặt ngã cây nếu không nhanh chóng tuột xuống thì anh trèo cây phải bị té, không gãy chân gãy tay thì cũng mang thương tích. Người có lòng tham dục, nhắm mắt chạy theo nhục dục ngũ trần cũng bị gãy tay gãy chân như vậy và thương tích đây có thể là những thương tích vật chất lẫn tinh thần.</p>



<p>Dòng nước lũ thứ nhì là sự luyến ái, bám chặt vào đời sống (Bhàva). Chính Bhàva tạo điều kiện để tái sanh. Bhàva là dòng nước lũ nguy hiểm lôi cuốn chúng sanh mãi mãi lặn hụp trong vòng luân hồi.</p>



<p>Tà kiến (Ditthi) là dòng nước lũ thứ ba. Phạn ngữ (Ditthi) do căn nguyên &#8220;dis&#8221; có nghĩa là thấy, trông thấy. Ditthi là quan điểm, sự tin tưởng, ý kiến v.v&#8230; Sammà Ditthi là chánh kiến. Miccha Ditthi là tà kiến. Đứng lẻ loi một mình Ditthi có nghĩa là tà kiến.</p>



<p>Tà kiến (Ditthi) không đồng nghĩa với S, (Moha). Si (Moha) như đám mây mờ bao phủ che án, không cho tâm trông thấy sự vật. Tà kiến (Ditthi) quả là một quan điểm rõ ràng. Tà kiến gồm hai giai đoạn: nhận xét sai lầm và hiểu biết theo quan điểm sai lầm ấy. Người có tà kiến nghĩ: &#8220;Thực tế phải như vầy, thế này mới đúng, tất cả đều sai&#8221;. Tà kiến nghịch nghĩa với trí tuệ. Trí tuệ nhận xét thực tướng của sự vật. Tà kiến gạt bỏ chân tướng và chấp nhận một quan điểm sai lầm.</p>



<p>Người tà kiến hiểu rằng đây là &#8220;Ta&#8221;. Cái này &#8220;của Ta&#8221; và do đó bao nhiêu lỗi lầm phát sanh.</p>



<p>Có mười tà kiến:</p>



<p>1. Tin rằng không có cái gì gọi là &#8220;để bát&#8221; (dinnan) (câu này có nghĩa để bát chư Tăng không đem lại cho ta lợi ích nào).</p>



<p>2. Tin rằng không có cái gì gọi là &#8220;Cúng dường&#8221; (ittham), hay</p>



<p>3. Tin rằng không có cái gì gọi là &#8220;Dâng tặng&#8221; (butan).</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p><em>(Hai câu này có nghĩa là cúng dường Đức Phật và Chư Tăng, bố thí vật thực và dâng tặng vật dụng đến những người cần đến không đem lại cho ta lợi ích gì).</em></p></blockquote>



<p>4. Tin rằng không có nhân quả. Hành động thiện hay ác đều không gây hậu quả nào.</p>



<p>5. Tin rằng không có cái gì gọi là &#8220;thế gian này&#8221;, hay</p>



<p>6. Tin rằng không có cái gì gọi là &#8220;Thế gian tới&#8221;.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p><em>(Những người sanh ở đây không chấp nhận có kiếp sống quá khứ và những người sống ở&nbsp;</em><em>đây không chấp nhận một đời sống vị lai).</em></p></blockquote>



<p>7. Tin rằng không có &#8220;mẹ&#8221;, hay</p>



<p>8. Tin rằng không có &#8220;Cha&#8221;.</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p><em>(Hai câu này ngụ ý rằng đối xử với cha mẹ như thế nào cũng không có hậu quả).</em></p></blockquote>



<p>9. Tin rằng không có chúng sanh chết và tái sanh (Opapàtika).</p>



<p>10. Tin rằng không có những bậc tu sĩ xa lánh chốn phồn hoa đô hội để tìm nơi vắng vẻ tham thiền và những bậc thiện trí thức, đức độ cao thượng, đạo hạnh trang nghiêm đã thành tựu đạo quả (ám chỉ chư Phật và chư vị A La Hán).</p>



<p>Dòng nước lũ thứ tư là Vô Minh (Avijja) không hiểu biết. Vô Minh là không hiểu biết Tứ Diệu Đế. Vô Minh dẫn dắt chúng sanh đi mãi trong vòng luân hồi.</p>



<p>6. CHIẾC BÈ &#8211; BÁT CHÁNH ĐẠO</p>



<p>Chiếc bè tượng trưng Bát Chánh Đạo, con đường duy nhất dẫn chúng sanh đến Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của người tu Phật. Bát Chánh Đạo là: Chánh Kiến (Sammà Ditthi), Chánh Tư Duy (Sammà Sankappa). Chánh Ngữ (Sammà Vacca), Chánh Nghiệp (Sammà Kammanta), Chánh Mạng (Sammà Ajiva), Chánh Tin Tấn (Sammà Vàyàma), Chánh Niệm (Sammà Sati) và Chánh Định (Sammà Samàdhi).</p>



<p>Trong tám yếu tố này Chánh Kiến và Chánh Tư Duy thuộc về Trí Tuệ; Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng thuộc về Giới; Chánh Tin Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định thuộc về Định.</p>



<p>Giới (Sila):</p>



<p>Chánh Ngữ<br>Chánh Nghiệp<br>Chánh Mạng</p>



<p>Định (Samàdhi):</p>



<p>Chánh Tinh Tấn<br>Chánh Niệm&nbsp;<br>Chánh Định</p>



<p>Tuệ (Pannà):</p>



<p>Chánh Kiến<br>Chánh Tư Duy</p>



<p>Theo thứ tự, Giới, Định, Tuệ là ba giai đoạn của &#8220;con đường&#8221; dẫn dắt đến Niết Bàn.</p>



<p>Một hôm, Đức Phật dạy các Tỳ Khưu như sau:</p>



<p>&#8220;Hỡi này các Tỳ Khưu, thí dụ như có một người đi trên đường, thấy trước mặt có một con sông rộng lớn. Bờ bên này thì hiểm nghèo đáng sợ còn bờ bên kia thì an toàn và không nguy hiểm. Ngó quanh quẩn, anh không tìm đâu ra được thuyền bè hay cầu để sang bên kia bờ. Khách đi đường mới nghĩ: &#8220;Đây là một con sông rộng lớn. Bờ bên này thì hiểm nghèo đáng sợ. Bờ bên kia thì an toàn và không nguy hiểm. Để sang sông lại không có thuyền bè, cầu cũng không. Tại sao ta lại không tìm lau, sậy, cây, nhánh, lá để kết lại làm một chiếc bè?&#8221;. Nghĩ vậy anh liền gom góp lau, sậy, cây, nhánh, lá, kết lại thành bè. Ngồi trên chiếc bè ấy, anh dùng cả tay lẫn chân, hết sức cố gắng bơi riết, băng sông qua bờ bên kia. Đến bờ an toàn anh lại nghĩ: &#8220;Chiếc bè này thật hữu ích. Nhờ nó mà ta vượt qua được con sông rộng lớn. Vậy, bây giờ ta có nên đội nó trên đầu hay khiêng trên vai để luôn luôn đem nó theo ta không?&#8221; Các vị Tỳ Khưu nghĩ thế nào? Người đi đường có nên vác chiếc bè theo bên mình không?</p>



<p>&#8211; Bạch Đức Thế Tôn, không.</p>



<p>&#8211; Vậy anh phải làm thế nào với chiếc bè?</p>



<p>Và Đức Phật nói tiếp: &#8220;Hỡi này các Tỳ Khưu, khi đã vượt con sông rộng lớn và bước chân lên bờ bên kia, người đi đường nghĩ: &#8220;Chiếc bè này quả thật hữu ích. Nhờ nó và nhờ sự cố gắng dùng cả tay lẫn chân để bơi, ta đã vượt qua sông và đến bờ an toàn. Bây giờ ta kéo nó lên bờ rồi bỏ đi hay để nó trôi theo dòng nước, còn ta thì thong thả nhẹ nhàng đi đâu tùy thích. Như vậy có nên không?&#8221; Hỡi này các Tỳ Khưu, người đi đường có nên hành động như thế không?</p>



<p>Cùng một thế ấy, những lời dạy của Như Lai cũng như chiếc bè: Mục đích của nó là đưa ta vượt sông chớ không phải để ta bám vào nó&#8221;.</p>



<p>* * *</p>



<p>Bát Chánh Đạo (Magga Ariya Sacca) chỉ là những phương tiện đưa đến Niết Bàn.</p>



<p>Tất cả các pháp hữu lậu đều là VÔ THƯỜNG, KHỔ NÃO, VÔ NGÃ. Người sáng suốt nhận thức như vậy và sẽ chán chê thân Ngũ Uẩn. Đó là Thanh Tịnh Đạo. &#8212; (Kinh Pháp Cú)</p>



<p>Bố thí vì lòng từ bi&#8230;<br>Cho những người thiếu thốn với tấm lòng thương xót&#8230;<br>Đó là mầm giống quý báu, cao thượng hơn tất cả những gì rực rỡ huy hoàng mà vô bổ.<br>Với tấm lòng thành kính, dâng cúng đến bậc thầy tổ, mẹ cha, đến bậc ân nhân và bậc thiện trí thức&#8230; lại càng cao quý.<br>Cho ra để gieo duyên lành, truyền bá chân lý và mở đường dẫn lối đến Giới, Định, Tuệ.</p>



<p>Đó là bố thí cao thượng!</p>



<p>* * *</p>



<p>Hạnh phúc thay Chư Phật giáng sinh!<br>Hạnh phúc thay Giáo Pháp cao minh!<br>Hạnh phúc thay Tăng Già Hòa hiệp!<br>Hạnh phúc thay Tứ Chúng đồng tu!<br>&#8212; (Kinh Pháp Cú)<em><em></em></em></p>



<p>Chú thích:</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a[1].">[1]</a>&nbsp;Poussin. &#8220;The Way to Nirvana&#8221; trang 68.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a2">[2]</a>&nbsp;Theo Phật giáo có ba giới:</p>



<p>1. Dục giới (Kàmaloka), chia làm 11 cảnh là 4 cảnh khổ (Apàya) 1 cảnh người (Manussaloka) và 6 cảnh trời dục giới (Sagga).<br>2. Sắc giới (Rùpaloka) gồm 16 cảnh mà những người đắc thiền sắc giới (Rùpaijhànas) tái sanh vào đó.<br>3. Vô sắc giới (Arùpaloka). Do nhờ năng lực thiền định, hành giả thọ sanh trong cảnh vô sắc, chỉ có tâm (danh) mà không có hình thể (sắc).</p>



<p>Theo thường, danh và sắc cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết để sinh hoạt, không thể bị phân tán. Nhưng trong những trường hợp đặc biệt, do nơi ý chí dõng mãnh trong lúc tham thiền, hành giả có thể tách rời danh và sắc, như ở cõi vô sắc, thể xác không còn là một yếu tố cần thiết để tâm tồn tại.<em><em></em></em></p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a3">[3]</a>&nbsp;Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) &#8211; Mahatanhà Samkhaya Sutta, Kinh Đoạn Tận Ái, số 38.<em><em></em></em></p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a4">[4]</a>&nbsp;Có thể nói thức tái sanh này là điểm kết hợp (point de liaison) hoặc là một hình thức di chuyển của giòng nghiệp lực từ một chúng sanh vừa tắt thở qua một thai bào thích ứng khác để thể hiện một chúng sanh tương xứng với sức phản động của hành vi thiện ác quá khứ (nghiệp lực).</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a5">[5]</a>&nbsp;<strong>Parama</strong>&nbsp;là cái gì không thể thay thế (aviparita) trừu tượng (nibbattita).&nbsp;<strong>Attha</strong>&nbsp;là vật.&nbsp;<strong>Paramattha</strong>&nbsp;là vật không thể thay thế, vật trừu tượng, thực tế trừu tượng.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a6">[6]&nbsp;</a>Trong sự thấy, mắt, vật để thấy và thức là 3 yếu tố cần thiết. Ánh Sáng là môi vật (medium). Cũng như không khí là môi vật của sự nghe và sự ngửi.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a7">[7]</a>&nbsp;Theo Vi Diệu Pháp, Vinnàna (Thức) đồng nghĩa với Citta (tâm vương).<em><em></em></em></p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a8">[8]</a>&nbsp;Trong một chớp nhoáng có hằng triệu triệu chập tư tưởng.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a9">[9]</a>&nbsp;Vì trong khoảng thời gian giữa hai cái gõ thì bao nhiêu triệu tế bào đã tiêu diệt và được thay thế trong ngón tay cũng như trong chất gỗ của bàn.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a10">[10]&nbsp;</a>Nếu phân một giây đồng hồ ra làm 1.000.000.000.000.000.000.000.000.000. Vật chất tồn tại trong 1 phần ấy.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a11">[11]</a>&nbsp;Phân Anh (inch), bằng 2,54 cm. Chia 2,54 cm ra làm 30 triệu lần. Tế bào đầu tiên của con người lớn bằng 1 phần.</p>



<p><a href="http://www.tuvienquangduc.com.au/TruyenNgan/114bonconran.html#a12">[12]</a>&nbsp;Có thuyết chủ trương rằng tư tưởng xuất phát từ trái tim, khoa học chủ trương rằng tư tưởng xuất phát từ bộ óc. Ý ở đây chỉ có nghĩa là nơi xuất phát của tư tưởng.</p>



<p></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-bon-con-ran/">Truyện ngụ ngôn &#8220;Bốn con rắn&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-bon-con-ran/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Truyện ngắn &#8220;hoa sen nở&#8221;</title>
		<link>https://chuacoam.com/truyen-ngan-hoa-sen-no/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/truyen-ngan-hoa-sen-no/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:30:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1201</guid>

					<description><![CDATA[<p>Mỗi ngày tôi mỗi đứng vươn cao. Nhiều lá xanh đã đứng thẳng lên hóng những làn gió mát lành từ phía sống Sài Gòn thổi vào. Tôi cảm nhận được sự tươi mát. Tôi cảm nhận thấy hơi nước của con sông phía xa mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy, nơi có các...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngan-hoa-sen-no/">Truyện ngắn &#8220;hoa sen nở&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Mỗi ngày tôi mỗi đứng vươn cao. Nhiều lá xanh đã đứng thẳng lên hóng những làn gió mát lành từ phía sống Sài Gòn thổi vào. Tôi cảm nhận được sự tươi mát. Tôi cảm nhận thấy hơi nước của con sông phía xa mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy, nơi có các chị lục bình lững lờ trôi theo con nước.1.&nbsp;Nghe tiếng sột soạt, thân tôi đụng vô mấy anh chị cùng nằm trong cái bịch nhỏ. Tôi thấy thân mình nhẹ nâng và đung đưa. Tôi, một hạt sen nhỏ bé cùng với các anh chị bị đổ ra trên sàn nhà vằn vện và loang lổ. Những hạt bụi nhỏ li ti trên sàn nhà bắt đầu bám vào lưng tôi nhột nhạt. Những luồng gió của buổi trưa hè nóng bức phả vào như muốn luộc chín tôi.Chị chủ nhà đi ra với một cái chén nước nhỏ, một con dao đầu bén nhọn. Tôi hoang mang và hoảng hốt đến tột độ, chị ta sẽ làm gì tôi? Chị ta sẽ đập nát tôi ra bằng con dao chuôi màu vàng kia chăng! Chị ta dìm tôi vào cái chén nước kia để nấu chín tôi chăng! Tôi không hề động đậy được, người tôi tê cứng như đá. Tôi muốn lăn đi trốn thoát khỏi bàn tay chị. Chị ta không thể đụng được vào tôi! Tôi không muốn chị ta đụng vào người tôi với ngón tay nhuộm xanh đổ lòe loẹt. Tôi cố quan sát những cử chỉ của chị. Chị nhặt tôi lên bằng ba ngón tay thon dài. Cử chỉ nâng niu nhè nhẹ làm tôi bớt sợ. Chị xoay qua, xoay lại và đặt tôi xuống sàn nhà.Tôi cuống cuồng khi tay phải của chị cầm con dao bén nhọn, chị nâng tôi lên, đưa mũi dao vào đỉnh đầu tôi và khoét gọt. Tôi đau điếng và kêu la thảm thiết. Tôi dần mất đi một phần da thịt trên cơ thể mình. Chị can thiệp quá đáng của chị vào cơ thể tôi! Chị ta làm gì tôi thế này! “Cô hãy dừng lại, hãy dừng khoét gọt tôi nữa”. Tôi đau, đau đến tất cả các tế bào nhỏ bé ở sâu bên trong mà chị ta không nghe thấy tiếng kêu gào trong tuyệt vọng của tôi. Những mảng da thịt tôi bắt đầu rớt trên sàn nhà tung tóe. Tôi gầm gừ như con thú hoang bị nhốt và sẻ thịt, tôi có khác gì chúng đâu. Mảng da thịt tôi vẫn đang bị xẻ đó thôi và nó sẽ vĩnh viễn lìa xa tôi. Da thịt tôi sẽ bị quét sạch, bị đổ vô thùng rác bên ngoài. Tôi đau đớn và ngất lịm.Làn nước lạnh thấm dần vào đầu và toàn thân. Một cảm giác êm ái và dễ chịu mới bắt đầu xuất hiện, cảm giác được nâng niu trong làn nước chứ không phải cảm giác nâng niu tôi lên để xẻ da thịt trên bàn tay nõn nà. Tôi bực tức và tỉnh lại sau mười phút thoát ra từ bàn tay ma quái kia. Trong làn nước, tôi cố gắng mở mắt nhìn. Tôi hoảng hốt khi thấy các anh chị tôi cũng bị vạc mất phần da thịt trên đầu như tôi. Họ nằm đó và chưa tỉnh. Tôi tự hỏi mình: sao chị kia không có lòng từ bi với chúng tôi nhỉ, mà lòng từ bi của chị là gì mà bỏ chúng tôi vào đây! Chị ta hại chúng tôi, chị ta vui? Chị ta vui khi được bỏ chúng tôi vào đây? Chúng tôi, ngay lúc đau đớn này, không vui trong cái phòng phục hồi sức khỏe bằng nước âm ấm và ngột ngạt ngợp thở này! Tôi chán ngấy! Tôi lại lịm đi trong đau đớn và tuyệt vọng trong chén nước kinh hãi.Tôi mơ màng trong ánh sáng huyền ảo và lung linh phía xa. Tôi vui đùa cùng những mảng mây trắng đang phảng phất trên bầu trời. Những cảm giác tự do bay nhảy, thích thú hồn nhiên ngắm nhìn những cánh rừng xanh ngát, ngắm nhìn bờ biển dài êm đềm và phẳng lặng, tận hưởng mùi mồ hôi nồng nàn của đất và nước hàng ngàn năm trước để rồi tôi thành hạt sen nhỏ bé và đen cháy như ngày nay.Bảy ngày sau, kể từ ngày tôi bị xẻ thịt, tôi tỉnh lại hẳn. Tôi mở mắt ra nhìn làn nước ngâm mình bao quanh. Cơ thể tôi như giãn nở ra. Lớp da bên ngoài bị ngâm nước lâu ngày&nbsp;gần như bị mềm nhũn, muốn lộ ra một lớp da khác đang chực chờ trong tôi để bung ra. Đầu tôi dần được nâng cao hơn trong cái thành chén nước. Tiếng rên rỉ của anh chị tôi không còn thảm thiết.Ánh sáng bên ngoài ô cửa lờ mờ. Con chim sẻ đang tìm những con sâu dưới mái tôn lạnh lẽo. Tôi cố gắng mở mắt, tôi càng cố gắng mở to hơn thì lớp da ngoài tôi càng bong tróc và nứt nẻ. Cơ thể tôi đang thay đổi, đang chuyển hóa. Mầm non cong cong như lưỡi câu bắt đầu nhú ra dài hơn kiếm tìm ánh nắng của buổi sáng. Tai tôi nghe rõ hơn giọng níu no của em bé đang tập nói trong phòng, tiếng đồ chơi của em bé. Tiếng va chạm, tiếng rơi rớt khô khốc trên sàn nhà. Sự kiên nhẫn của tôi trong bảy ngày chịu đựng bởi đau đớn và ngụp lặn trong chén nước này để nay tôi nghe được âm thanh rõ ràng hơn. Tôi nhìn thấy ánh nắng đẹp hơn, những mảng mây trời ung dung như bước chân chú tiểu đang thiền hành. Tôi tự thấy trong lòng viên mãn.Hôm nay trăng sáng, trăng soi đến tận gốc rễ của tôi vừa mới nhú ra. Cái ánh trăng như&nbsp;những sợi chỉ quyện chặt tôi trong những ý nghĩ, những mong cầu, những chiêm nghiệm, những sự khác biệt, những gì tôi đã qua,… như một cuốn phim dài lan man nhiều tập. Tôi sợ hãi: sợi chỉ kéo dài và cuốn theo những thước phim vô hồn, không ý nghĩa. Trong quá khứ tôi bị phơi khô bỏ vô bịch im lìm và khô héo. Tôi bị vạt đầu, đau đớn và căm hận cũng đã qua. Tôi muốn cắt đi sợi chỉ níu tôi về với quá khứ. Tôi muốn nhìn vào thực tế những gì đang thay đổi của tôi trong hiện tại. Mầm non tiếp tục nhú ra và đang vươn cao hơn.Vẫn là chị ta với dáng gầy gò, da dẻ nhợt nhạt. Chị hòa một thứ đất dinh dưỡng pha với nước. Chị đổ tất cả cái hỗn hợp đen đen và lợn cợn đó vào chậu sành lớn rồi bỏ tôi vào. Cái mùi hôi hôi, tanh tanh của những thứ tạp chất làm tôi choáng ngợp. Sự tối tăm trong lớp đất bùn lắng đọng xuống đáy chậu bao chùm và níu chặt thân thể tôi. Tôi cố ngóc đầu lên và mở mắt để nhìn ra không gian bên ngoài. Chị bông súng trong chậu kế bên đang khoe những cánh hoa hồng nhạt bén nhọn. Màu hồng nhạt hòa vào những tia nắng úa vàng cuối cùng của buổi chiều. Chị bông súng vẫn lắc lư, đung&nbsp;đưa trong gió như chào một thành viên mới, một thành viên non nớt, loài hoa từ bi. Xa hơn, chị sen hồng với dáng đứng thẳng tắp khẽ đung đưa ba bốn lá như bắt tay. Chị chào tôi qua làn gió nhẹ. Tôi cảm thấy mình an tâm và không còn bị cô độc trong cái khu vườn nhỏ này. Trong tôi, vài cọng dễ non dưới chân bám vào lớp bùn nhầy nhụa, tôi cố vươn mình thêm cao hơn.Màn đêm buông xuống, chúng tôi im lặng để hít thở không khí tốt lành của khu vườn. Sương đọng trên lá rơi xuống tạo ra tiếng lõm bõm đều đều như tiếng chuông chùa từ xa vọng lại. Cơn gió khẽ thổi như những bước chân của những linh hồn tăm tối tạt ngang ngay trên mặt nước. Cơn gió tạo thành các đợt sóng li ti như mời gọi tôi vươn lên để nhìn thấy rõ hơn ánh sáng trong đêm tối. Tôi cố gắng nhìn vào làn nước bao quanh mình, gạt ra những lớp màng còn nổi lợn cợn lúc chiều. Những mảng tơi dừa to lớn và nặng nề bắt đầu đọng xuống dưới chân. Tôi hút các chất vi lượng cần thiết và vừa đủ. Tôi ấp ủ ý định vượt thoát mặt nước trong cái chậu này.&nbsp;Có tiếng bước chân lọet xoẹt. Tiếng dép miết xuống những viên gạch nhỏ trong vườn. Bước chân của chị chủ. Bước chân càng lộ rõ, càng rõ hơn. Tôi ngẩng lên nhìn, chị nhìn xuống tôi với ánh mắt trìu mến. Ánh mắt chị như hỏi thăm tôi trong môi trường mới có thoải mái không, có cảm thấy khó chịu gì không, có cần chị đổ thêm nước hoặc bớt nước ra không,.. Tôi ngắm nhìn chị trong yên lặng, tôi chấp nhận những gì chị mang lại cho tôi, một mầm non nhỏ bé. Chị ngồi xuống, đưa tay nhấc bổng tôi lên trên mặt nước. Chị ngắm nhìn tôi dưới ánh trăng lờ mờ của đêm tối. Chị vuốt ve cái mầm non nhỏ bé của tôi nhú ra được hơn mười xen-ti-mét. Cái thân gầy đét của tôi đang nằm trên tay chị. Vài cọng tóc bị gió cuốn, tạt vào thân tôi nhồn nhột. Tôi nói “cảm ơn chị”. Chị nhoẻn miệng cười, cái cười của người thỏa mãn, cái cười của người tự hào đã làm cho một mầm non có một cuộc sống khởi đầu tốt đẹp. Chị đặt nhẹ tôi vào chậu và chỉnh lại tư thế tôi đang đứng. Tôi như muốn níu kéo tay chị ở lại trong nước với mình. Tôi muốn níu lại cái cảm giác được người khác chăm sóc và nâng đỡ. Tôi muốn nhìn thấy chị và ở trong lòng bàn tay âm ấm.&nbsp;Chị chủ là người đã có gia đình, chị ở nhà này đã tám năm với người chồng điên dại và vũ phu. Cuộc sống của chị như ngục tù bởi những lời lẽ thô tục và những cái tát nổ đom đóm mắt từ tay ông chồng mang lại, mỗi lần ông ta nhậu xỉn. Khuya hôm nay trăng sáng, hai con gái chị đã ngủ, chị lại tìm ra khu vườn để thổ lộ các tâm tình của mình với cây và hoa. Trăng xa quá, chị ngẩng lên nhìn, ánh trăng phủ lên ánh sáng lờ mờ lên mặt, lên tóc và chiếc váy bi của chị. Ánh trăng như một phần an ủi và nâng đỡ chị khỏi sự cô đơn.Trong tay chị, trong chậu nước tôi đang sống, chị kể cho tôi nghe lại trong bảy ngày qua. Mỗi ngày chị thay nước cho tôi hai lần, ngày nào chị cũng căn nước âm ấm để mầm non của tôi phát triển nhanh hơn. Chị kể về những mong muốn của chị khi được nhìn thấy tôi nở ra những đóa hoa sen tuyệt đẹp, những lá sen xanh ngát và những cọng sen thẳng đứng. Tôi cũng hứa với chị.Ánh bình minh ló rạng, xuyên qua lớp nước đã lắng đọng chất dinh dưỡng. Tôi choàng tỉnh giấc trong thế đứng hiên ngang và vững chãi. Những lớp váng cáu bẩn còn lộ vài nơi trên mặt chậu. Một vài dề bong bóng bên thành chậu tranh nhau che cho tôi cái ánh nắng của buổi sáng. Chị bông súng hôm nay có thêm nhiều cánh hơn. Chị sen hồng cũng đang lấp ló thêm một nụ hoa mới. Tôi tự hỏi mình bao lâu nữa sẽ ra nụ và nở hoa. Tôi không biết được ngày mai mình sẽ ra sao. Tôi phải ra những lá sen mới để che mát cho làn nước trong chậu, chắc khi đó tôi mới nở hoa được! Tôi đang có mầm lá thứ nhất, sẽ có lá thứ hai, lá thứ ba gì đó và rồi khi có đủ cơ hội, tôi sẽ ra nụ và nở hoa. Cũng như vậy, tôi đã kiên nhẫn vượt qua đau đớn khi bị chị chủ gọt đầu, tôi kiên nhẫn thêm trong hơn bảy ngày để hôm nay tôi có một hình hài mới. Tôi phải kiên nhẫn thêm nữa, thêm nữa.Làm sao để tôi kiên nhẫn được? Tôi phải liệt kê ra những ý nghĩ tích cực trong chính mình: những ý nghĩ và hành động tiêu cực được tôi loại bỏ ra khỏi tâm trí. Khi ta không sợ hãi, không nóng giận vì nó là hành động trái ngược với sự an nhiên, tự tại. Sợ hãi của tôi là sự khổ đau và hình thành do các nhận thức sai lầm mang lại. Ta không cho phép&nbsp;mình quá rảnh rỗi, quá rảnh rỗi làm ta không tinh tấn được trong các ý nghĩ, các hành động mang tính tích cực. Ý nghĩ của ta phải trong sáng, tích cực để chị chủ nhà được thêm vui mỗi khi ngắm nhìn ta trong mỗi buổi tối, thân&nbsp;– hoa – lá và củ phải sinh sôi và phát triển để làm thuốc chữa bệnh cho người khác.</p>



<figure class="wp-block-table"><table class=""><tbody><tr><td></td></tr><tr><td>&nbsp;</td></tr></tbody></table></figure>



<p>2.&nbsp;Nay là ngày thứ mười hai, tôi nhú lên được khỏi mặt nước hơn năm xen-ti-mét. Lá mầm của tôi giờ này đã to lớn, chỉ đợi đến đêm nay sẽ hé mở dần dần. Phía dưới hạt cũng đã đâm thêm một mầm lá thứ hai, dài hai xen- ti-mét. Tôi đã được dịch chuyển chậu ra gần với chị hoa loa kèn vàng. Chị nhìn tôi với ánh mắt soi mói, những chiếc lá của chị như muốn trêu đùa tôi. Thỉnh thoảng lại chọc xuống mặt nước trong chậu làm tôi rung rinh chao đảo. Một bông loa kèn vàng của chị ngó chăm chăm vào tôi, vài bông khác ngó qua các hướng khác như muốn loan báo các hành động, những cử chỉ và ý nghĩ của tôi cho mọi loài trong vườn nghe. Chỉ đợi một cơn gió nhẹ thoáng qua, chị loa kèn xua những tấm lá dài tạt ngang qua tôi như hù dọa, như căm phẫn, làm như tôi có thù hằn gì với chị. Có thể chị&nbsp;sợ những bông hoa tàn úa của chị khi rơi xuống sẽ bị nhấn chìm trong chậu nước của tôi chăng? Tôi nhỏ bé, không lấy được nhiều ánh nắng và gió như chị! Chị căm tức? Trong khi chị vẫn mải mê xua các tấm lá khác, tôi nhìn các chị hoa khác đung đưa theo gió. Tôi nhìn hướng gió nên biết chị sẽ tạt tôi theo hướng nào. Cùng lắm, tôi chỉ bị lay nhẹ bởi mặt nước, khi mấy cánh lá to dài và xù xì của chị vươn tới và tạt vào mặt nước.Cái nắng oi bức của buổi xế trưa hòa vào với những cơn gió hổn hển toát mồ hôi. Sài Gòn vào đầu mùa mưa như dịu lại: vài giọt mưa nhỏ. Nắng vẫn còn nắng, gió vẫn còn gió và mưa bắt đầu rơi. Nó cũng như tính cách người Sài Gòn thoải mái, khoáng đạt và vô tư như vậy. Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi ý nghĩ, mỗi người mỗi cách làm và mỗi người đều được hoàn toàn tự do trong tâm trí.Anh xương rồng trên cửa sổ, phía sau tấm kính trong nhà ngó tôi đăm đăm. Nếu không có tấm kính, chỉ cần cơn gió mạnh là anh té ngay vào lá mầm bé bỏng của tôi và đâm vào những chiếc gai bén nhọn. Tôi rùng mình sợ&nbsp;hãi. Anh ngó tôi và quan sát tỉ mẩn đến im lặng. Tôi đã bị vài hạt mưa lớn ráng xuống thân đau đớn. Phía sau anh, chị chủ nhà đang ngồi trên chiếc ghế đẩu. Chị đã ngồi như thế trong sáu năm trở lại đây. Anh xương rồng gai góc, chị không ngó. Vài bông hoa trong vườn lung lay vì bị mưa và gió, chị không ngó. Chị ngó vào hư vô trong cái tiết trời u ám lúc chuyển mưa. Những đụn mây như lòng chị trĩu nặng, sự trăn trở, sự gò bó và u buồn. Những giọt mưa như những giọt nước mắt chị chảy ra cho thỏa những mong ước, thỏa những nhớ nhung và những ham muốn ẩn nấp trong con người chị bấy lâu. Những bong bóng nước trôi chảy, buồn thương cho một kiếp người. Chị ngó qua tấm kính trong vô vọng và thổn thức.Bữa nay, chồng chị về đột ngột. Anh mở cửa ra trong cơn men choáng váng, trong cái nhầy nhụa của cơn mưa đầu mùa. Những vệt hoen ố trên áo mưa, những bụi bặm của tháng ngày đã qua quệt vào mặt anh như dòng sông đầy bùn đặc quánh và loang lổ. Anh thấy chị vẫn ngồi bên ô cửa sổ. Anh la ó một cách vô duyên, kêu la người vợ trong thảm thiết. Chị&nbsp;vẫn im lặng như không có gì xảy ra! Anh tiến tới chị cùng hơi men nồng nặc như mọi khi. Anh như con thú hoang quay có, hung dữ và đói khát&#8230; Anh xương rồng nằm chèm bẹp bên ngoài ô cửa sổ với đầy những mảnh kính vỡ vụn.Cơn thịnh nộ và những cuộc ẩu đả lại tiếp tục trong căn nhà này! Tôi thấy lần đầu tiên. Tôi che mắt, không muốn nhìn. Tôi bịt tai, không muốn nghe những âm thanh chát chúa, đay nghiến. Tôi không muốn nhìn thấy các hành vi đánh nhau qua lại giữa hai người. Tôi muốn vào can ngăn! Sao tôi có thể làm được! Một mầm lá bé nhỏ mới thoát khỏi mặt nước! Tôi cúi gằm mặt nhìn lại chính mình. Tôi cũng đang bị bủa vây bởi những giọt nước mưa chát chúa và tàn nhẫn. Anh xương rồng nằm chỏng chơ trên mặt đất, anh nhìn tôi như cầu cứu. Anh không quen với cuộc sống có quá nhiều nước, ngay cả với nước mưa và nước mắt. Tâm hồn anh mơ mộng được tưới tẩm bằng những giọt nước tự nhiên. Thân hình anh gai góc được tưới tẩm bởi vài giọt nước mỗi tuần. “Anh lăn đi!” – Tôi thúc giục. Anh đã bị kiệt sức, nước quá nhiều đang cuốn anh đi. Anh&nbsp;không chủ động được chính mình mặc dù thân hình anh đầy gai góc và lộ rõ những nét từng trải của khô cằn và khổ đau.Tôi vô vọng nhìn theo những làn nước đang chảy và gió đang mạnh dần. Tôi ngó anh và nương theo làn gió, mắt tôi mờ mờ ảo ảo đẫm nhòa nước, đẫm nhòa nhìn trong cái gió tạt của cơn mưa chiều. Anh của thế giới khác, tôi của thế giới khác! Sao tôi có thể nâng đỡ anh nằm trên cái bờ chậu khô cằn và nóng cháy của tôi! “Anh xương rồng! Em xin lỗi”. Tôi gào thét, tôi quẫy đạp, tôi nghiêng ngả và khóc than trong vô vọng để níu giữ anh bên ô cửa. Chị loa kèn vẫn đung đưa, chị vẫn cười đùa với những chiếc lá và phả vào mặt tôi. Chị vui khi thấy những cảnh này sao? Chị căm phẫn hay thù hận gì mà vẫn bình thản trước sự vô vọng của muôn loài khác? Hay chị đã quen với cảnh anh chị chủ nhà hành xử thô bạo? Những chiếc lá của chị vẫn cười nhạo vui vẻ. Tôi không hiểu! Tôi không biết! Tôi mới thấy những gì xảy ra, đây là lần đầu tiên trong cuộc sống bé nhỏ của tôi. Một lá mầm sắp bung ra.Những tia nắng lại bắt đầu ló rạng. Đám&nbsp;mây u ám và đầy những nhớp nhúa của cuộc sống dần tan đi. Nó đã đổ hết xuống căn nhà này. Nó thỏa mãn. Khi những gì đã được viên mãn thì lòng đố kị không còn, lòng ghen ghét, sự hờn trách cũng vơi đi. Nhưng đám mây kia có biết đâu, những mầm mống ấy vẫn còn tồn tại trong chính nó, một khi được khởi phát, nó lại trút hết xuống căn nhà này. Với lòng căm phẫn và ghét bỏ của nó, nó không nhận ra những điều “bất hại”, nó không hiểu được “tàm quý”, nó mất đi sự “từ bi”! Phải chăng đám mây này là chính là những con người trong ngôi nhà này của ngày hôm qua? Phải chăng sự tức giận, sự hờn ghen, sự căm phẫn ngột ngạt trong ngôi nhà này tích tụ ra thành đám mây để trút ngược lại? Một vòng xoay quanh quẩn của lòng tham hận và si mê tai quái.Sự xô đẩy, những cái tát nảy lửa, tiếng chửi bới, tiếng trẻ em gào khóc thảm thiết trong cơn mưa! Chị lầm lũi bước đi lánh nạn vài tiếng đồng hồ. Hai em gái nhỏ được hàng xóm nâng niu, ôm ấp và che chở. Sự hục hặc của ông chồng vẫn ầm ĩ như muốn nổ tung căn nhà. Tôi vô vọng, tôi không với đến được hai&nbsp;em bé! Tôi chỉ là một lá mầm mới nhú lên. Sự cám dỗ về tinh thần hay vật chất hay sự thiếu vắng tình yêu thương trong nhà này đã đẩy sự việc đi vượt mức của cuộc sống?Chị thủy tiên vàng cười. Chị là một trong những biểu tượng của sự tôn trọng. Chị vẫn tôn trọng tôi, tôn trọng cách nghĩ, cách nhìn nhận của tôi trong hơn bảy ngày qua. Chị vẫn tôn trọng cả anh và chị chủ. Chị hiểu rằng những đốm lửa nhen nhóm mỗi ngày sẽ làm dấy lên sự bùng cháy. Cái bùng cháy nhanh hay chậm, nhiều hay ít và như tự nó có. Nó đã cháy trong cơn mưa của chiều nay. Cơn mưa không đủ sức để dập đám cháy trong lòng mỗi người!Chị hoa loa kèn ơi, chị hiểu không hay chị vẫn thù hằn gia đình này mà lu loa cho các loài hoa khác trong vườn! Anh xương rồng ơi, anh đâu rồi? Anh còn những ham muốn cố hữu của anh trong căn phòng kính chật hẹp đó không? Con chim sẻ lại “trách trách” trên mái tôn tìm những con sâu chết ngợp. Trách ai chim sẻ ơi? Hạt lúa, hạt mè trong ngôi nhà này rồi cũng sẽ không còn! Hãy đi nơi khác đi&nbsp;chim sẻ ơi, ra những cánh đồng bao la rộng lớn, ra với một khu rừng tràn đầy cây trái và hoa quả. Hãy mang về cho những đứa con thơ có những thức ăn từ bi và thánh thiện. Hãy sống thánh thiện và vượt qua các cám dỗ của những mùi vị sâu bọ. Hãy thực hành tình yêu thương với muôn loài. Hãy bỏ đi những tham sân si trong lòng nha sẻ ơi. Khi khát nước, hãy về đây uống những giọt nước trong ngần tôi đã lọc sạch. Khi ý nghĩ bị tù túng, hãy về cùng tôi tâm sự. Những làn hương thơm nhẹ nhàng của tôi sẽ làm cho sẻ vơi bớt những nhọc nhằn cố hữu. Hãy mớm những mảng lá xanh của tôi khi con sẻ bệnh, hãy lấy nước ở đây mà coi như dòng cam lộ xoa dịu tâm thân.Những giọt mưa cám dỗ lọt xuống dưới đáy trong chậu, những giọt từ bi nổi lên phía trên làm cho thân thể tôi mát lành và tươi sáng. Ánh sáng của buổi xế chiều như gôm lại làm những con vi khuẩn có hại không có cơ hội sinh sôi nảy nở. Nếu ta chế ngự lòng tham thì không còn sự cám dỗ. Khi ta không ham muốn thì không còn khổ đau. Khi ta hướng mình về ánh sáng của sự thật, ta sẽ bỏ qua được cái phù du và sự tạm bợ. Đêm nay, khi&nbsp;gặp chị chủ, tôi sẽ tâm sự với chị về ánh sáng của từ bi, của tình yêu thương và hướng chị đến tinh thần an ổn cùng với hơi thở. Chỉ có hơi thở của chính mình trong tinh tấn của tuệ giác mới có thể thoát khỏi các ràng buộc nhất thời của cuộc sống.3.&nbsp;Hôm nay là ngày thứ hai mươi tám tôi ngâm mình trong nước. Chiếc lá mầm đầu tiên giờ đã lớn thành chiếc lá có bán kính hai mươi xen-ti-mét. Lá mầm thứ hai giờ cũng đã muốn xòe ra che chở cho những mầm non mới đang trồi phía dưới. Nhiều nhánh dễ cũng đang lan trên lớp bùn và đâm sâu vào để tìm chất dinh dưỡng. Vài tiếng ho khàn đặc không thoát hơi của anh chủ. Anh đã bị bệnh.Phía trong gian bếp, chị đang lúi cúi lặt vài cọng rau xanh mướt. Tiếng dao bằm trên mặt thớt rền vang. Tiếng bằm đều đặn như muốn bằm nhuyễn nỗi cơ cực của tâm trí và thể xác để bỏ vào nồi cháo. Màu trắng bạch của hạt gạo nở tung tóe, màu vàng nhợt nhạt của cà rốt, màu xanh bầm tím của những lá hành,.. như chung sức quyện vào nhau tạo ra các phản ứng sinh hóa. Chúng hô hào nhau tạo ra thứ&nbsp;năng lượng để nuôi cơ thể anh đang teo tóp dần qua những phút giây. Tôi cũng muốn mình lớn thật nhanh. Tôi muốn ra những mảng lá to và nhiều để chị có thể hái, phơi nắng và nấu với đường cát cho anh ăn. Tôi muốn củ sen trong tôi lớn thật nhanh để chị có thể làm cho anh món ăn giàu vitamin c và protein. Tôi muốn nảy ra nhanh những hạt sen để chị nấu thành một thứ nước uống cho anh ngủ ngon và mau hết bệnh.Cuộc sống, một không gian chật hẹp. Khi tôi là hạt sen, vẫn chỉ là hạt sen. Tôi là cái mầm đang nhú ra thì hạt sen cũng mất dần đi thân thể của mình. Vỏ hạt tạo ra những chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng một mầm sống mới được hình thành. Khi mầm sống trong tôi càng lớn thì hạt sen không còn là hạt sen nữa. Giờ tôi là sen có củ, dễ, cọng và lá. Vỏ hạt vẫn ngâm mình trong nước bùn nhiễu nhão, những mảng vỏ vỡ, dần dần nở vụn ra hòa vào nước. Tôi lớn dần lên, những gì thuộc về tôi trước đó lại mất đi. Tôi mất đi cái gọi là hạt sen. Hạt sen được chuyển hóa thành củ sen, dễ sen, cọng sen và lá sen như tôi bây giờ. Tôi len lỏi trong cái không gian chật hẹp của cuộc sống.&nbsp;Tôi dành lấy khoảng không của hạt sen nhỏ bằng đầu ngón tay để giờ đây, nếu vo tròn tôi lại, tôi đã lớn bằng nắm tay.Anh chủ đang khô héo bởi những cơn ho khàn đục, cổ anh như muốn ngăn lại dòng không khí nuôi cơ thể anh. Những dịch đờm trong cổ anh càng lớn, càng nhiều thì những lớp da thịt càng như muốn dính chặt vào lớp xương khô đét lấy những nguồn dinh dưỡng cuối cùng nhất trong anh.Chị hoa loa kèn cũng đã rơi rụng hai bông hoa héo úa ngay bên cạnh tôi. Một bông tựa như cái tai chị đã bị rụng, chị không nghe được gì từ khu vườn nhỏ bé này. Một bông như cái cái miệng hay la hét, hay xỉa xói giờ này cũng không còn. Một bông còn lại trong mắt chị nhìn tôi mờ đục, chứa lởm chởm những vạt úa vàng thảm hại. Anh xương rồng nằm thu lu ngay ống thoát nước đã mười sáu ngày nay với dáng bộ buồn thảm và vô vọng. Những cái gai tua tủa trên người anh gãy siêu vẹo qua bên trái, bên phải. Mười sáu ngày nay chúng tôi không thấy hình dáng anh chủ xuất hiện…Những tiếng trống, tiếng kèn inh ỏi, mùi khói nhang từ trong nhà tỏa ra. Cả khu vườn ngột ngạt. Chị hoa mai gầy đét và trơ trụi lá được chuyển đến cùng chị phong lan treo sát dạt phía bờ tường ẩm mốc rêu xanh. Tôi không còn thấy chị bông súng. Phía xa, hai bên cánh cổng nhà anh chị chủ đã mở rộng.</p>



<figure class="wp-block-table"><table class=""><tbody><tr><td></td></tr><tr><td>&nbsp;</td></tr></tbody></table></figure>



<p>4.&nbsp;Mỗi ngày tôi mỗi đứng vươn cao. Nhiều lá xanh đã đứng thẳng lên hóng những làn gió mát lành từ phía sống Sài Gòn thổi vào. Tôi cảm nhận được sự tươi mát. Tôi cảm nhận thấy hơi nước của con sông phía xa mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy, nơi có các chị lục bình lững lờ trôi theo con nước.Chậu sen của tôi đã được để ngay bên hông cửa ra vào phía trước phòng khách. Phóng tầm mắt về phía bên trái và dọc lối vào, tôi mừng vui vẫy gọi các anh chị tôi đang ung dung trong các chậu sen. Kể từ ngày tôi nằm lịm đi cùng các anh chị, giờ đây mới gặp lại. Tôi đung đưa cành lá cao nhất và nhảy nhót như em bé gặp mẹ về sau một ngày làm việc. Các anh chị tôi cũng vui mừng khôn siết. Có chị đã có nụ vươn cao, chị đung đưa và muốn xé toạc&nbsp;cái khoảng không để đến gần cho tôi ngắm nghía và nâng niu. Chị Hai, các anh chị đã ở đâu bấy lâu nay? &#8211; Tôi khóc ròng vì mừng vui. Tôi khóc cho thỏa sự cô đơn đã qua, khóc cho thỏa sự khổ đau đã cùng tôi trong những đêm tối lạnh lẽo. Tôi khóc cho những kiếp người đầy những sân hận, thù oán, phóng dật và sát hại.Chị Hai kể cho tôi nghe: Từ ngày ấy, chị và các anh đã được đưa qua một ngôi nhà khác. Ở đó có rất nhiều loại hoa, ngôi nhà có khu vườn bán cây cảnh của anh chị chủ. Ở đó có nhiều loại hoa lan, hoa hồng, bonsai,.. Ở đó có người chăm sóc và cắt tỉa mỗi ngày. Hôm nay, ngôi nhà đó được chuyển qua cho người chủ mới, chị chủ chỉ trở về đây những chậu sen và vài ba giỏ phong lan.Tôi vui mừng. Một cơn gió thoảng qua. Kìa, chị Ba cũng có một nụ lên cao gần bằng chị Hai rồi – Tôi la lên và hòa cùng tiếng cười với các anh chị. Ánh nắng dần lên cao, chúng tôi lại tiếp tục với công việc của mình: lấy vừa đủ các chất dinh dưỡng dưới lớp bùn, lấy thêm một chút ánh sáng của buổi sớm, chăm sóc&nbsp;một vài mầm lá mới hé nở, lọc gặn những vi sinh vật nhỏ bé có hại, tỏa ra oxy cùng các loài cây khác cho khu vườn thêm tươi mát hơn…Chị bướm trắng nhỏ xíu không bao giờ ngó nghiêng đến tôi, hôm nay bay ra đứng giữa lối ra vào, từ xa chị vẫy đôi cánh chào hỏi anh chị em tôi. Hai cái râu khi xòe khi cụp, khi lên khi xuống như vỗ tay chúc mừng, như thán phục anh chị em tôi không bị nhiễm những lớp bùn phía dưới chậu. Chị làm như thế rất lâu. Chị bay đến đậu trên chậu hồng nhung phía dưới, lấy râu chọc giỡn đóa hồng làm chị hồng nhung lay động vì nhột nhạt. Chị thì thầm điều gì đó rồi lại bay đến mảng cỏ xanh mướt dưới chân tường, đong đưa và lắc lư thân mình&#8230; Chúng tôi gặp lại nhau, chị vui; chị lại có thêm các thành viên mới trong khu vườn này, chị vui.Đã lâu rồi tôi không còn thấy chị chim sẻ. Có lẽ giờ này chị đã cùng các con của mình bay xa ra phía những ruộng lúa chín mọng. Có lẽ chị đang nô đùa và dạy con của mình nhặt những hạt lúa vương vãi chín mọng. Chị đang&nbsp;bắt đầu một cuộc sống mới trong khoảng trời mênh mông tự do. Cuộc sống giản đơn và thanh thoát. Có lẽ chị đã có một tổ ấm nơi hốc cây có đầy mùi thơm của những cọng rơm đầu mùa.Những ngày cuối tháng tám, trời không còn oi bức và nóng nực. Những cơn mưa dần trở lên có quy luật hơn. Nó không vồn vã để đổ vào nơi này hay nơi khác một cách ngẫu hứng. Nó báo trước bằng những tảng mây sám xì và nặng nhọc ở một phía khác. Nó nhờ hướng gió báo cho vùng này hoặc vùng khác biết rằng nó có đến hay không đến. Những tia nắng cũng không còn gay gắt như muốn xé nát da thịt như đầu mùa mưa. Tia nắng được nâng niu bằng những hơi nước xoa dịu mỗi ngày nên tôi không bị nóng bỏng dưới làn nước trong chậu của mình.Trời đang chuyển tối, ánh đèn heo hắt từ trong phòng khách lan tỏa. Trên bàn thờ Phật, ánh đèn điện sáng nhấp nháy theo một lập trình đã định sẵn. Tôi yên lặng, hướng đầu búp sen về phía bàn thờ, những cành lá theo đó cũng nghiêng một góc để chiêm ngưỡng. Con&nbsp;dế mèn từng bước chầm chậm leo lên bậc thềm nhà, ngó vào phía trong.Cửa phòng khách mở rộng hơn, thoảng mùi sen thơm phảng phất và tinh khiết ào ào tỏa ra hiên nhà. Cái giá gỗ cao đang nâng niu bó sen hồng và bó sen trắng…Cánh cửa cổng đóng lại. Trong đêm tối, chị chủ dẫn xe đi cùng với áo màu lam và hai bó sen nằm trong giỏ xe, phía trước.

</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngan-hoa-sen-no/">Truyện ngắn &#8220;hoa sen nở&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/truyen-ngan-hoa-sen-no/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Truyện ngụ ngôn Phật giáo : Cá và Sóng</title>
		<link>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-phat-giao-ca-va-song/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-phat-giao-ca-va-song/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:29:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1198</guid>

					<description><![CDATA[<p>Dòng tư tưởng trong tâm ta, niệm niệm sinh khởi bất tuyệt như sóng trào, chẳng cách chi dừng lặng. Chỉ khi niệm ngừng sinh khởi, cõi yên bình trong tâm ta mới hiển lộ, và ta hưởng được cảm giác tĩnh lặng, an nhiên, giống như con cá nhỏ lặn xuống biển sâu tận hưởng...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-phat-giao-ca-va-song/">Truyện ngụ ngôn Phật giáo : Cá và Sóng</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Dòng tư tưởng trong tâm ta, niệm niệm sinh khởi bất tuyệt như sóng trào, chẳng cách chi dừng lặng. Chỉ khi niệm ngừng sinh khởi, cõi yên bình trong tâm ta mới hiển lộ, và ta hưởng được cảm giác tĩnh lặng, an nhiên, giống như con cá nhỏ lặn xuống biển sâu tận hưởng niềm an tĩnh.</strong></p>



<p>Một con cá nhỏ bơi lội tung tăng, thả nổi và ngoi lên mặt nước ngắm bầu trời xanh. Một lượn sóng ùa tới, nó đùa giỡn ngụp lặn với sóng và nhìn sóng cuồn cuộn tiến vào bờ, thích thú hỏi:</p>



<p>&#8211; Cuộc sống hàng ngày của anh luôn vui nhộn, náo nhiệt như thế hả?</p>



<p>Sóng đáp:</p>



<p>&#8211; Không phải mỗi ngày mà mỗi khắc đều lăn tăn, náo động không ngừng! Có khi còn dữ dội hơn bây giờ. Chỉ cần giông to gió lớn, lúc ấy tôi như bay bổng, cuồn cuộn dâng cao, mạnh mẽ vũ bão khó mà tả cho hết!</p>



<p>&#8211; Chà! Oai nhỉ? Ước gì tôi được hóa thành sóng để mỗi ngày nương theo mưa gió, hào hùng lướt trên triều lưu chắc tuyệt lắm? – Cá thèm thuồng ước ao.</p>



<p>Cá nô đùa trên sóng chẳng mấy chốc đã thấm mệt. Nó bảo bạn:</p>



<p>&#8211; Sóng này! Tôi nhớ đến đáy biển yên bình rồi, anh có muốn cùng tôi xuống đó chơi không?</p>



<p>Sóng chưa kịp đáp thì một cơn sóng to khác đã hung hãn ập tới, đẩy nó đi xa. Con cá nhỏ đành lặn xuống đáy biển một mình, lim dim mắt nghỉ ngơi.</p>



<p>Ngày ngày, cá đều trồi lên mặt biển nô đùa với sóng. Lần nào nó cũng khẩn khoản mời sóng xuống đáy biển chơi, nhưng cứ gặp cảnh sóng chưa kịp trả lời thì đã bị xô dạt xa tít.</p>



<p>Ngày nọ, cá dặn lòng nhất định phải mời sóng cho bằng được, nên vừa gặp sóng nó nói ngay:</p>



<p>&#8211; Anh hãy xuống thám thính cho biết đáy biển yên tĩnh và chơi đùa cùng tôi nhé?</p>



<p>Nói xong, cá te te kéo sóng đi nhưng nó lại bị sóng cuốn đến một vùng xa tít.</p>



<p>Sóng đành thú nhận với cá:</p>



<p>&#8211; Thật lòng tôi cũng muốn xuống đáy biển với anh. Nhưng quả là không được. Sóng chỉ có thể lướt đi trên mặt biển, hễ xuống đáy sâu là chết ngay. Hơn nữa loài sóng chúng tôi không được tự do làm theo ý mình, luôn bị làn sóng phía sau xô đẩy chạy tới trước mãi. Hễ gặp gió nổi lên thì chạy mệt bứt hơi, mà triều lưu biến động thì toàn thân đảo lộn, nhồi vật ngất ngư. Thiệt tình tôi chỉ mơ được làm con cá nhỏ như anh, lặn xuống đáy biển yên bình, nghỉ ngơi…</p>



<p>Sóng chưa nói dứt câu thì đã bị một cơn sóng lớn đẩy bắn lên cao mấy thước. Cá sợ quá, không dám nán lại thêm phút giây nào, lặn tuốt xuống đáy biển náu thân và nghĩ thầm:</p>



<p>Cuộc đời như sóng thiệt tội nghiệp! Chẳng có lấy một khoảnh khắc bình an, cũng không được tự do quyết định, đâu sướng bằng một con cá nhỏ như ta!</p>



<p>(Theo Truyện ngụ ngôn của Lâm Thanh Huyền)</p>



<p>BÀI HỌC ĐẠO LÝ</p>



<p>Dòng tư tưởng trong tâm ta, niệm niệm sinh khởi bất tuyệt như sóng trào, chẳng cách chi dừng lặng. Chỉ khi niệm ngừng sinh khởi, cõi yên bình trong tâm ta mới hiển lộ, và ta hưởng được cảm giác tĩnh lặng, an nhiên, giống như con cá nhỏ lặn xuống biển sâu tận hưởng niềm an tĩnh.</p>



<p>Tâm con người giống như những đợt sóng cuồn cuộn. Các kinh điển, giáo pháp luôn nhắc ta hàng phục tâm, đừng để dòng thác nghĩ tưởng lôi cuốn mê hoặc, làm ta mất tự chủ. Niệm khởi dù sôi động, vui nhộn nhưng chỉ là lớp mặt nổi, biến hóa liên miên, sinh rồi diệt tiếp nối nhau thành dòng. Theo nó, ta chẳng thể an thân và chẳng có được một khoảnh khắc bình yên. Trong cuộc sống, có nếm qua kinh nghiệm nội tâm tĩnh lặng mới biết được mùi vị an bình, có từng bị khổ nhồi vật ngất ngư, mới biết quý và trân trọng hạnh phúc tĩnh lặng.</p>



<p>Nếu như ta dành nhiều thời gian tĩnh tâm, quán sát và theo dõi dòng tâm thức diễn hành mà không đồng hóa hay để chúng nhấn chìm, ta sẽ hưởng được mùi vị an lạc, giản dị, thanh bình và tự do. Chỉ khi tâm bình an ta mới có nhận định tinh tế, sáng suốt và bao dung. Đây chính là chỗ mà Thiền tông nói: Cao cao sơn đỉnh lập, thâm thâm hải để hành” là vậy.<br></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-phat-giao-ca-va-song/">Truyện ngụ ngôn Phật giáo : Cá và Sóng</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/truyen-ngu-ngon-phat-giao-ca-va-song/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đừng để Di Lặc buồn</title>
		<link>https://chuacoam.com/dung-de-di-lac-buon/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/dung-de-di-lac-buon/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:27:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1195</guid>

					<description><![CDATA[<p>Người ta gọi tên dì Năm, vì người đàn bà tới chùa vào ngày thứ Năm. Người con trai trạc tuổi hai mươi lau nước mắt và nói với Sư cô “Cho con gởi má ở đây. Con về thành phố làm ăn kiếm được chỗ ở tử tế sẽ đón má về”. Rồi quay...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/dung-de-di-lac-buon/">Đừng để Di Lặc buồn</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Người ta gọi tên dì Năm, vì người đàn bà tới chùa vào ngày thứ Năm.</strong></p>



<p>Người con trai trạc tuổi hai mươi lau nước mắt và nói với Sư cô “Cho con gởi má ở đây. Con về thành phố làm ăn kiếm được chỗ ở tử tế sẽ đón má về”. Rồi quay qua dì Năm, người con trai chỉ tay tới tượng Phật Di Lặc giữa sân chùa “Má yên tâm, con lúc nào cũng cười vui như vầy, má đừng lo gì nghe”.</p>



<p><strong><br>* </strong>Tôi hồi đó mười bảy tuổi, lần đầu tiên gặp dì Năm là ngày rằm tháng Tám</p>



<p>Chùa tổ chức đêm Trung thu cho trẻ em mồ côi, ngoài mỗi phần quà là bánh nướng bánh dẻo và lồng đèn, bọn nhỏ còn được tham gia biểu diễn văn nghệ. Bọn nhỏ đứa nào cũng thích được lên sân khấu cho nên chương trình văn nghệ lộn tùng phèo.</p>



<p>Đang giới thiệu tiết mục đơn ca thì bỗng thấy cả chục đứa rồng rắn chạy lên. Thì ra thấy một đứa hớn hở đi lên sân khấu mà trời bỗng ì ùm muốn mưa, lỡ tới phiên mình mưa đổ ào xuống khán giả chạy hết thì lấy ai coi mình diễn? Kéo nhau đi sân khấu khi trời chưa mưa cho chắc ăn!</p>



<p>Vậy thì cho màn hợp ca diễn trước luôn. Ờ, cũng hay, lỡ mà trời mưa trúng màn đơn ca thì che dù cho một ca sĩ trên sân khấu dễ hơn là che dù cho cả hàng chục đứa!</p>



<p>Khi đang tập thì đứa nào cũng thuộc, nhưng trên sân khấu hơi hồi hộp nên quên trước quên sau. Tôi lãnh nhiệm vụ cầm sẵn mic canh chừng dàn hợp ca đang hát thật to mà bỗng nhỏ dần rời rạc là tôi vọt miệng ca vang, coi như&#8230; hát bè. Khán giả bên dưới phần đông là Phật tử của chùa, còn lại là mấy bà mấy cô buôn bán vỉa hè thân quen với các ca sĩ nhí trên sân khấu cho nên tiết mục nào cũng vỗ tay rộn ràng bất kể đơn ca mà phần bè của tôi lấn luôn phần hát chính!</p>



<p>Suốt chương trình văn nghệ hát hò về trăng rằm và bánh kẹo, kết thúc là bài hát về lòng mẹ. Tôi chọn bài hát này với ý muốn thay lời cảm ơn Sư cô đã rộng lòng với các em không chỉ trong đêm Trung thu này mà trong tất cả những dịp có thể Sư cô đều sắp xếp làm gì đó để cho các em được thêm một lần vui.</p>



<p>Từ trong cánh gà thò đầu ra nhìn xuống tìm xem Sư cô đang ngồi ở đâu, tôi thấy người đàn bà bên cạnh Sư cô đang kéo vạt áo lau nước mắt. Ngay lúc đó, tôi chỉ nghĩ là có lẽ bài hát như một giấc mơ đẹp được bọn nhỏ hát hồn nhiên quá khiến người nghe xúc động. Cho tới khi nghe má tôi nói đó là người đàn bà tâm thần mà đứa con trai đem gởi chùa.</p>



<p>Tuổi mười bảy, tôi thắc mắc bị tâm thần sao hiểu được bài hát này mà chảy nước mắt?<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Lần nào tới chùa tôi cũng thấy dì Năm đứng trước tượng Phật Di Lặc, miệng dì nhoẻn cười hết cỡ, tay cầm cái gương.</p>



<p>Ban đầu tôi tưởng dì có tính xí xọn, nhưng không thấy dì chớp mắt vuốt tóc điệu đàng&#8230;</p>



<p>Tôi đang quét sân, dì Năm lúc thúc chạy tới đưa tay nâng cằm tôi lên sao cho khuôn mặt tôi đối diện với khuôn mặt của dì (để nhìn cho rõ!), rồi dì nhoẻn cười hết cỡ, ngón tay trỏ chỉ về phía tượng Phật Di Lặc.</p>



<p>Mấy lần như vậy thì tôi hiểu ra dì bắt chước nụ cười của Phật Di Lặc và muốn hỏi tôi dì cười như vậy đã giống chưa.</p>



<p>Tôi gật đầu. Dì Năm thích thú lắm, lại giơ cao cái gương soi và cười híp mắt.<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Tôi học đại học ở thành phố, mỗi năm có hai dịp về thăm nhà là mùa hè và Tết. Tôi qua chùa chào Sư cô, dì Năm nhìn tôi, khuôn mặt ngô nghê hiện vẻ ngờ ngợ đã gặp tôi rồi.</p>



<p>&#8211; Đây là bé Hạnh &#8211; Sư cô nói với dì Năm &#8211; Hồi trước bé Hạnh còn ở nhà với ba má thường hay tới chùa mình làm công quả, dì Năm nhớ ra chưa?</p>



<p>Dì Năm gục gà gục gặc cái đầu ra ý đã hiểu. Sư cô nói thêm:</p>



<p>&#8211; Bây giờ bé Hạnh đi học xa lắm, tận thành phố, hôm nay về thăm nhà, thăm ba má rồi qua chùa thăm Sư cô với dì Năm nè.</p>



<p>Dì Năm lại gục gặc đầu. Chợt có đoàn người đi qua cổng, dì Năm ngay lập tức bỏ qua sự có mặt đầy gợi nhắc của tôi, dì vội nhét cái gương nãy giờ cầm trên tay vô túi áo rồi chạy tới bàn ngửa mấy cái ly ra và rót đầy tất cả các ly.</p>



<p>&#8211; Dì Năm giỏi quá &#8211; Sư cô nhẹ nhàng &#8211; Nhưng mà lần sau dì Năm đợi mọi người ngồi vô bàn rồi mới rót nước mời uống nghe.<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Mỗi lần gặp lại tôi thấy dì Năm khác đi một tí. Khi thì tôi thấy tay dì không cầm cái gương soi nữa mà cả mười ngón tay cứ rờ rẫm và vuốt vuốt vạt áo tràng.</p>



<p>Má tôi giải thích:</p>



<p>&#8211; Dì Năm khoe bữa nay được mặc áo tràng mới đó con.</p>



<p>À, ra vậy. Tôi tấm tắc:</p>



<p>&#8211; Dì mặc áo đẹp ghê.</p>



<p>Dì Năm cười, mặt ửng hồng. So với khi bắt chước Phật Di Lặc cười, dì đã biết mắc cỡ rồi.</p>



<p>Lúc Sư cô và mọi người chuẩn bị tụng kinh thì dì Năm nhanh nhảu đi lấy mấy cái chiếu trải ra. Má nói:</p>



<p>&#8211; Dì Năm trải chiếu đã biết phân biệt mặt trái mặt phải.<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Vậy, từng chút từng chút, dì Năm biết thêm tí này tí kia và rất sẵn lòng đem “kiến thức” của mình phục vụ mọi người. Với dì Năm thì ai cũng là người lần đầu tiên tới chùa. Dì tíu tít chỉ chỗ dựng xe dưới bóng mát của gốc cây, chỗ có vòi nước rửa mặt&#8230; Dì lăng xăng thắp bảy cây nhang và hướng dẫn người ta cắm bàn thờ nào trước bàn thờ nào tiếp theo. Sự nồng nhiệt hồn nhiên khiến vẻ mặt ngô nghê của dì trở nên dễ thương khiến ai cũng sẵn lòng làm theo ý của dì.</p>



<p>Tôi cũng vậy, tôi để yên cho dì sửa sang cách bàn tay tôi cầm nhang, rồi tôi cắm từng cây theo hướng dẫn của dì. Xong cây nhang cuối cùng, tôi chắp tay cảm ơn thì dì kêu lên:</p>



<p>&#8211; Đừng để Di Lặc buồn.</p>



<p>Ra là tôi chưa cắm nhang bàn thờ Phật Di Lặc, không biết do tôi vô ý cắm hai cây vô một cái lư hay là lần này dì Năm thắp thiếu một cây so với thường lệ.</p>



<p>Dì ra hiệu cho tôi hãy tới chỗ tượng Phật Di Lặc và đợi ở đó. Dì lấp xấp chạy đến chỗ để nhang, lấy một cây rồi chạy ra đưa cho tôi, giọng năn nỉ:</p>



<p>&#8211; Thắp cho Di Lặc đi cô, không thì Di Lặc buồn không chịu cười nữa.</p>



<p>Giọng năn nỉ của dì khiến lòng tôi rung động. Cầm cây nhang, tôi cầm luôn bàn tay dì, những ngón tay gầy móng nhỏ yếu ớt. Tôi muốn nói với dì một lời nhưng không biết nói gì. Tôi chợt hiểu những giọt nước mắt đêm văn nghệ năm nào. Giữa tâm thức mịt mờ, trái tim vẫn lóe lên mang máng nỗi nhớ thương&#8230;<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Tôi lấy chồng, chuẩn bị lễ hằng thuận, má tôi may cho dì Năm cái áo dài mới. Dì thích lắm, cứ mân mê lớp vải lụa mát rượi bàn tay.</p>



<p>Suốt buổi lễ dì Năm nhấp nha nhấp nhỏm nhìn người này người kia, ai cũng ăn mặc đẹp đẽ, rồi dì chăm chăm tới lẵng trái cây kết hình rồng phượng, dì không hay cười như mọi ngày mà có vẻ căng thẳng như không khí là lạ của buổi lễ đánh thức nơi dì điều gì đó.</p>



<p>Bữa tiệc chay, má tôi đưa dì tới chỗ ngồi và nói:</p>



<p>&#8211; Hôm nay dì Năm không phải làm gì hết, ngồi yên đây mà thưởng thức món ngon nghen.</p>



<p>Người đàn bà cùng bàn ngạc nhiên:</p>



<p>&#8211; Dì Năm hả? Chẳng lẽ có chị em sinh đôi cùng bị tâm thần sao?</p>



<p>Má tôi hỏi han người đàn bà và biết dì Năm hồi còn con gái dễ thương lắm. Không may dì lấy trúng ông chồng có tính rượu chè, mỗi khi có rượu vô thì đánh đập vợ dữ dội. Họ có hai người con trai, người em hiền lành như mẹ còn người anh cũng rượu chè như cha mình. Trong một cuộc say cự cãi giữa hai cha con, dì lãnh một cú giáng xuống đầu, sinh bịnh tâm thần từ đó.<br><br></p>



<p><strong>*&nbsp;</strong>Tôi theo chồng làm việc ở tỉnh khác, những cuộc điện thoại trò chuyện với má, nghe má kể sau ngày cuới tôi, chồng và người con trai lớn tới đón dì Năm về nhưng được vài ngày thì dì Năm trở lại chùa.</p>



<p>Ông xe ôm chở dì về chùa kể &#8211; Hỏi “Đi đâu”, trả lời “Chùa”. Hỏi “Chùa nào?”, trả lời “Di Lặc cười”. Ông xe ôm chịu thua, chở dì vòng vòng khắp các chùa, may gặp người quen biết dì ở chùa này nên chỉ tới đây.</p>



<p>Cứ đón về rồi trở lại như vậy mấy lần thì gia đình thôi, để tùy ý dì. Rồi thì họ cũng lui tới thăm dì và thắp nhang lễ Phật. Có lần người con dâu kể cha chồng và chồng bây giờ đã bớt rượu nhiều rồi, tới ngày rằm và mùng một còn biết ăn chay nữa.</p>



<p>Tôi thắc mắc là người con trai út sao không thấy quay lại? Má thở dài, thời buổi này làm ăn đâu dễ, người trẻ nào khi ra đi cũng quyết không thành công không trở về. Cả quyết quá cho nên đâm ra dễ lỡ bước sa chân, rồi thì&#8230;</p>



<p>Tôi biết là thời buổi này làm ăn không dễ, mong kiếm được một chỗ ở tử tế để đón má bị tâm thần về chăm sóc là một giấc mơ lớn. Nhưng tôi có lòng tin người biết tìm một ngôi chùa để gởi gắm mẹ mình thì không dễ lỡ bước sa chân.</p>



<p>Có lẽ anh đang phiêu bạt nơi xa lắm&#8230;</p>



<p>Cầu mong anh vẫn giữ được nụ cười&#8230;</p>



<p></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/dung-de-di-lac-buon/">Đừng để Di Lặc buồn</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/dung-de-di-lac-buon/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tâm bệnh còn khổ hơn cả thân bệnh</title>
		<link>https://chuacoam.com/tam-benh-con-kho-hon-ca-than-benh/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/tam-benh-con-kho-hon-ca-than-benh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:25:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1192</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bây giờ anh mới nhận ra hai điều: Có tiền không phải là có tất cả. Tâm bệnh còn khổ gấp ngàn lần thân bệnh.     Khoảng chín năm về trước, khi còn ở nông thôn hai vợ chồng ông Lánh làm đủ nghề kiếm sống: làm nông, đi xe ôm, phụ hồ, buôn...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tam-benh-con-kho-hon-ca-than-benh/">Tâm bệnh còn khổ hơn cả thân bệnh</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Bây giờ anh mới nhận ra hai điều: Có tiền không phải là có tất cả. Tâm bệnh còn khổ gấp ngàn lần thân bệnh.</strong></p>



<p>    Khoảng chín năm về trước, khi còn ở nông thôn hai vợ chồng ông Lánh làm đủ nghề kiếm sống: làm nông, đi xe ôm, phụ hồ, buôn bán… Đặc biệt, ông rất “mát tay” trong làm ruộng, ruộng lúa của ông lúc nào năng suất cũng cao hơn những người xung quanh, vì thế người ta gọi ông là “lão nông tri điền”, ông cười hớn hở với cái biệt danh đó và càng ra sức chia sẻ kinh nghiệm làm nông với bà con trong thôn. Cuộc sống ở nhà quê tuy lam lũ, cơ cực nhưng mấy đứa con ông rất hiếu thảo, lại chăm ngoan học hành, cả nhà lúc nào cũng rộn tiếng cười, tối đến vợ chồng ông ngủ được ngon giấc, ít suy tư lo nghĩ về những tai họa rình rập đến với gia đình. Ông tâm đắc với câu nói của người xưa: “Mai chống gối, tối lấy tiền” nên chẳng cần lo nghĩ nhiều làm chi cho mệt! Cứ sống vô tư, thoải mái.</p>



<p>&nbsp;Từ ngày nhà ông chuyển lên thành phố, cuộc sống đã thực sự đổi thay, khởi sắc. Bà con họ tộc, xóm giềng ai cũng mừng lây vì có một người con của quê hương đi làm ăn xa thành đạt. Mỗi lần về quê, ông Lánh đều xử sự rất “thoáng”, rất hào phóng. Thế nhưng, ít ai ngờ ở trên thành phố, vợ chồng ông làm nghề, mà người ta thường nói dí dỏm “việc nhẹ lương cao”, đó là ghi số đề. Từ làm con chỉ vài năm đã nhanh chóng vươn lên làm cái, rồi mở “đại lý” hoạt động chui, cảnh nhà lúc nào cũng nườm nượp người vào kẻ ra đông vui nhộn nhịp. Thu nhập theo đó cũng khấm khá lên, tiền bạc học hành của con cái đều được chu cấp kịp thời, đầy đủ. Chính do bố mẹ quá nuông chiều, đòi gì được nấy, cuộc sống vật chất thừa thãi, các con ông có lối sống ngày càng sa đọa, thực dụng, ăn chơi đua đòi để chứng tỏ mình là dân chơi sành điệu. Sống xa nhà, lại thiếu sự quản lý của gia đình nên hai đứa con của ông (đều là sinh viên) như những con thiêu thân trượt dài trên con đường hư hỏng, sa ngã vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, cá độ bóng đá, nhậu nhẹt li bì… Cả hai đứa đều học hành giảm sút, nợ nhà trường nhiều phân môn từ năm này sang năm khác, không có khả năng trả, bị đình chỉ học tập.</p>



<p>Lần lượt nhận hung tin hai đứa con đang trọ học ở Huế và Đà Nẵng bị đuổi học nửa chừng, vợ chồng ông Lánh ngẩn ngơ như vừa bị sét đánh. Từ đó, ông bị “tâm bệnh”, suốt ngày thơ thẩn như người mất hồn, quanh quẩn vào ra nhìn vợ rồi nhìn cảnh vật xung quanh, ít nói ít cười. Ai tiếp xúc với ông đều bảo ông có bệnh và khuyên ông nên đi khám sớm. Ông nói: Tui không có bệnh tật gì, chỉ lắc đầu, thở dài rồi bỏ đi…</p>



<p>Thế là, một lỗ hổng rất lớn trong gia đình&nbsp; mà đến bây giờ ông ấy mới nhận ra thì đã quá muộn màng. Cứ mải lo làm kinh tế, ra sức tranh thủ, bon chen kiếm được càng nhiều tiền càng tốt, đã giàu muốn giàu thêm… mà xao nhãng việc giáo dục, quản lý con cái, để rồi giờ đây ông bà phải nuối tiếc, ân hận về những ngày tháng đã qua, và tự vấn lương tâm mình vì đã không làm tròn trách nhiệm của người bố, người mẹ, họ cảm thấy chán nản vì những đứa con hư hỏng, rơi vào tệ nạn xã hội. Càng ngẫm nghĩ ông càng thấm thía và tự nhủ: Trách nhiệm này trước hết thuộc về bố mẹ, chứ đừng đổ lỗi bởi môi trường xã hội hay sự giáo dục lơi lỏng của nhà trường.</p>



<p>&nbsp; &nbsp; Mới đây, ông về làng chạp họ, chúng tôi đọc được tâm trạng buồn vời vợi của ông thể hiện qua ánh mắt đờ đẫn và dáng đi mỏi mệt. Châm lửa hít một hơi thuốc lào, nhả khói mơ màng, ông tâm sự: “Các chú ạ! Bây giờ anh mới nhận ra hai điều: Có tiền không phải là có tất cả. Tâm bệnh còn khổ gấp ngàn lần thân bệnh”.</p>



<p>Bà con họ tộc có mặt hôm đó ai cũng ngậm ngùi, xót xa&#8230;&nbsp;<br></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tam-benh-con-kho-hon-ca-than-benh/">Tâm bệnh còn khổ hơn cả thân bệnh</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/tam-benh-con-kho-hon-ca-than-benh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Câu chuyện về luật nhân quả</title>
		<link>https://chuacoam.com/cau-chuyen-ve-luat-nhan-qua/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/cau-chuyen-ve-luat-nhan-qua/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:23:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1189</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vào một đêm muộn đầu xuân, mọi người đều đã ngủ say, có một đôi vợ chồng tuổi đã cao bước vào một khách sạn, đáng buồn thay khách sạn đó đã hết phòng. Nhân viên lễ tân không đành lòng để cho cặp vợ chồng đó lại đi tìm khách sạn, anh ta liền...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/cau-chuyen-ve-luat-nhan-qua/">Câu chuyện về luật nhân quả</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Vào một đêm muộn đầu xuân, mọi người đều đã ngủ say, có một đôi vợ chồng tuổi đã cao bước vào một khách sạn, đáng buồn thay khách sạn đó đã hết phòng.</p>



<p>Nhân viên lễ tân không đành lòng để cho cặp vợ chồng đó lại đi tìm khách sạn, anh ta liền dẫn họ vào một căn phòng: “Có thể đây không phải là căn phòng tốt nhất nhưng ít nhất hai bác cũng không phải chạy đi tìm phòng nửa đêm nữa”. Cặp vợ chồng thấy căn phòng được dọn dẹp sạch sẽ nên quyết định ở lại đó.</p>



<p>Ngày thứ hai, khi họ thanh toán, nhân viên lễ tân đó liền nói: “Hai bác không cần thanh toán đâu ạ, vì căn phòng hai bác ở đó là phòng của cháu. Chúc hai bác có một hành trình du lịch vui vẻ ạ!”.</p>



<p>Thì ra, nhân viên lễ tân đó đã ngủ một đêm tại quầy bàn để nhường phòng cho họ. Cặp vợ chồng hết sức cảm động và nói: “Chàng trai trẻ à, cậu là nhân viên lễ tân khách sạn tốt nhất mà chúng tôi từng gặp đấy. Cậu nhất định sẽ được đền đáp”. Chàng trai liền cười rồi tiễn cặp vợ chồng ra cửa và rồi nhanh chóng quên đi chuyện hôm đó.</p>



<p>Bỗng có một ngày, anh ta nhận được một bức thư, trong đó có một tấm vé đi du lịch New York một mình, chàng trai đi đến một căn biệt thự trang hoàng theo như chỉ dẫn trong thư.</p>



<p>Thì ra, hai người mà anh ta tiếp đón trong đêm muộn hôm đó chính là một nhà tỷ phú cùng với vợ của ông ấy. Ông ấy đã mua tặng chàng trai một tiệm rượu lớn sau đó giao cho anh quản lý.</p>



<p>Thực ra nhân quả đều do mỗi người nắm giữ, khi chưa xác định được mục tiêu vĩ đại của đời người thì hãy dùng tấm lòng của mình để làm việc gì đó.</p>



<p>Mỗi một cá nhân đều là một nhân viên phục vụ, những điều lớn lao đều bắt nguồn từ việc chúng ta phục vụ cho người khác, khả năng một người phục vụ cho người khác lớn bao nhiêu thì kết quả chúng ta có được càng lớn bấy nhiêu.</p>



<p>Sống trong đời cần phải trải nghiệm nhiều. Trên đường đời, chúng ta có thể có tiếng cười sảng khoái, nhưng cũng có thể có cả những giọt nước mắt khổ đau; trên đường đời, có niềm tin từ sự thành công, cũng có thức tỉnh từ sự thất bại, nhưng chúng ta đều phải biết quý trọng.</p>



<p>Sự giàu có của đời người đến từ một trái tim vô tư, không ích kỉ; cái tốt đẹp của cuộc đời đến từ một trái tim giản dị. Trên đường đời không cần điều gì cao quý, chỉ cần làm việc bằng một trái tim chân thực là đủ.</p>



<p>Nếu muốn có được những người bạn tốt, trước tiên bạn phải đối tốt với người khác.</p>



<p>Nếu muốn được vui vẻ, hạnh phúc, trước tiên bạn hãy mang hạnh phúc đến cho người khác, không lâu sau bạn sẽ nhận thấy bản thân càng ngày càng hạnh phúc.</p>



<p>Chúng ta có khả năng làm việc tốt cho bản thân mình mới có khả năng đi làm việc tốt cho người khác.</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/cau-chuyen-ve-luat-nhan-qua/">Câu chuyện về luật nhân quả</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/cau-chuyen-ve-luat-nhan-qua/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chúng ta chỉ bất tiện có ba tiếng thôi</title>
		<link>https://chuacoam.com/chung-ta-chi-bat-tien-co-ba-tieng-thoi/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/chung-ta-chi-bat-tien-co-ba-tieng-thoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2020 02:20:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1185</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ngày hôm đó, tôi may mắn đặt được vé về quê ngoại cùng với chồng, nhưng sau khi lên xe thì nhìn thấy có một quý cô đang ngồi ở vị trí của chúng tôi. Chồng tôi bảo tôi ngồi ở cạnh vị nữ sĩ đó nhưng lại không mời bà ấy nhường chỗ. Tôi...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/chung-ta-chi-bat-tien-co-ba-tieng-thoi/">Chúng ta chỉ bất tiện có ba tiếng thôi</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p> Ngày hôm đó, tôi may mắn đặt được vé về quê ngoại cùng với chồng, nhưng sau khi lên xe thì nhìn thấy có một quý cô đang ngồi ở vị trí của chúng tôi. </p>



<p>Chồng tôi bảo tôi ngồi ở cạnh vị nữ sĩ đó nhưng lại không mời bà ấy nhường chỗ. Tôi phát hiện ra chân phải của bà ấy có chút trở ngại, lúc đó tôi mới hiểu tại sao chồng tôi lại làm như thế.</p>



<p>Chồng tôi cứ đứng như thế suốt dọc đường từ Gia Nghĩa đến Bắc Kinh mà không hề có ý định lấy lại chỗ ngồi.</p>



<p>Sau khi xuống xe, tôi nói với giọng điệu của một bà vợ xót chồng: “Nhường chỗ là việc nên làm, thế nhưng từ Gia Nghĩa đến Bắc Kinh xa như thế sao không nói bà ấy đổi vị trí cho mình chứ”. Chồng tôi đáp: “Người ta bất tiện cả đời rồi, còn mình chỉ bất tiện có ba tiếng thôi mà”.</p>



<p>Nghe chồng nói vậy, tôi vô cùng xúc động. Có được một người chồng vừa tốt bụng vừa lương thiện như thế, tôi thấy rằng cả thế giới này đều trở nên ấm áp hơn nhiều. Tâm niệm thay đổi, thế giới hình như cũng vì thế mà thay đổi theo. Trong cuộc sống, mỗi một câu chuyện đều có khả năng xoay chuyển, cứ lấy chúng tôi làm ví dụ là rõ nhất.</p>



<p> Có thể chúng ta sẽ không thành công trong ba phút nhưng đôi lúc chỉ cần mất đi một phút, số mệnh con người sẽ hoàn toàn khác nhau. </p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/chung-ta-chi-bat-tien-co-ba-tieng-thoi/">Chúng ta chỉ bất tiện có ba tiếng thôi</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/chung-ta-chi-bat-tien-co-ba-tieng-thoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
