<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Bài viết về Đức Phật Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<atom:link href="https://chuacoam.com/chuyen-muc/tin-tuc/phap-mon-niem-phat/bai-viet-ve-duc-phat/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/tin-tuc/phap-mon-niem-phat/bai-viet-ve-duc-phat/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 17 May 2023 04:07:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9</generator>

<image>
	<url>https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/cropped-logo-chuacoam-32x32.png</url>
	<title>Bài viết về Đức Phật Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/tin-tuc/phap-mon-niem-phat/bai-viet-ve-duc-phat/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phật đản diễn ra vào ngày nào? Ý nghĩa ngày Phật đản</title>
		<link>https://chuacoam.com/phat-dan-dien-ra-vao-ngay-nao-y-nghia-ngay-phat-dan/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/phat-dan-dien-ra-vao-ngay-nao-y-nghia-ngay-phat-dan/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 17 May 2023 04:07:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết Phật sự]]></category>
		<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Phật giáo vs Xã hội]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức khác]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://chuacoam.com/?p=7953</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lễ Phật đản là lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni &#8211; Người khai sáng ra Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu những điều bạn cần biết về ngày lễ đặc biệt này. Sau khi đọc xong, có thể bạn sẽ rất muốn tham gia lễ Phật đản...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phat-dan-dien-ra-vao-ngay-nao-y-nghia-ngay-phat-dan/">Phật đản diễn ra vào ngày nào? Ý nghĩa ngày Phật đản</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Lễ Phật đản</strong> là lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni &#8211; Người khai sáng ra Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu những điều bạn cần biết về ngày lễ đặc biệt này. Sau khi đọc xong, có thể bạn sẽ rất muốn tham gia lễ Phật đản để nhận được phúc lành, may mắn, kết duyên Phật Pháp trong hiện đời và nhiều đời về sau.</p>
<h2 id="Lễ_phật_đản_vào_ngày_nào_">Lễ phật đản vào ngày nào?</h2>
<p>Trong kinh Nguyên Thủy có ghi rằng: Thái tử Tất Đạt Đa (tức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau này) ra đời vào ngày trăng tròn tháng 4 âm lịch. Tháng 4 âm lịch còn gọi là tháng Vesak; ngày trăng tròn chỉ có ngày 15 hoặc ngày 16. Vào năm 1950, Đại hội Phật giáo Quốc tế đã thống nhất lấy ngày giữa tháng 4 âm lịch (tức ngày 15/4) là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sanh.</p>
<p>Tuy nhiên, theo truyền thống của Phật giáo Bắc Tông, ngày mùng 08 tháng 4 âm lịch vẫn là ngày kỷ niệm lễ Phật đản.</p>
<p>Cho nên, ngày nay, chúng ta có cả tuần lễ Phật đản (từ 08/4 đến Rằm tháng tư) hoặc có nhiều nơi tổ chức từ mùng 01/4 âm lịch đến hết tháng.</p>
<figure class="expNoEdit fresco" data-fresco-group="example_ui_outside"><figcaption>
<p class="h2"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter wp-image-7954 size-large" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/05/279111872_1684992195169290_6977206395713106532_n-1024x683.jpg" alt="" width="1020" height="680" /></p>
</figcaption></figure>
<h2 id="Ý_nghĩa_lễ_Phật_đản">Ý nghĩa lễ Phật đản</h2>
<p>Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca đánh dấu sự kiện một con người vĩ đại nhất xuất hiện ở trần gian, người đã đem ánh sáng chân lý, mang tới con đường cứu khổ cho muôn loài. Lễ Phật Đản không chỉ là ngày lễ kính mừng Đức Phật ra đời mà còn là dịp để hoằng dương Phật Pháp. Nhờ có lễ hội Phật đản mà nhiều người biết đến Phật Pháp, tiếp cận chân lý, giải thoát, hết khổ đau.</p>
<p>Cho nên, với những ai đi qua lễ hội Phật đản, chỉ cần khởi tâm tán thán cũng sẽ được phước báu hiện kiếp này và nhiều đời nhiều kiếp về sau. Đặc biệt sẽ có duyên lành được tu tập trong Phật Pháp, được hạnh phúc, an vui, sẽ đi đến giải thoát, thành tựu Vô thượng Bồ đề và đạt được Niết bàn an lạc.</p>
<p>Chỉ đi qua khởi tâm tán thán lễ Phật đản mà đã được phước báu như vậy thì nếu nhiệt tình tham gia, tổ chức thì chắc chắn phúc báu nhận được còn lớn hơn rất nhiều.</p>
<figure class="expNoEdit fresco" data-fresco-group="example_ui_outside"><figcaption>
<p class="h2"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-7955 size-large" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/05/279088551_1684996728502170_7111669106943659844_n-1024x683.jpg" alt="" width="1020" height="680" /><img decoding="async" class="aligncenter size-large wp-image-7956" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/05/278931829_1684995561835620_8951824303600252331_n-1024x595.jpg" alt="" width="1020" height="593" /></p>
</figcaption></figure>
<p>Bên cạnh đó, nếu những ai khởi tâm chưa hoan hỷ với lễ Phật đản thì ít nhiều họ cũng đã động tâm tới ngày sinh của Đức Phật. Trong giáo lý đạo Phật, ai động tâm (dù là thiện hay bất thiện) với tất cả các nhân duyên trong nhà Phật thì đều có nhân duyên kết duyên với Phật Pháp trong lâu dài.</p>
<p>Tựu chung lại, lễ Phật đản có ý nghĩa là nhân duyên hội đủ giúp chúng sinh giác ngộ, kết duyên được với Phật Pháp để được hưởng hạnh phúc dài lâu.</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phat-dan-dien-ra-vao-ngay-nao-y-nghia-ngay-phat-dan/">Phật đản diễn ra vào ngày nào? Ý nghĩa ngày Phật đản</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/phat-dan-dien-ra-vao-ngay-nao-y-nghia-ngay-phat-dan/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bồ Tát Phổ Hiền là ai? Sự tích và ý nghĩa hạnh nguyện cuộc đời của Ngài</title>
		<link>https://chuacoam.com/bo-tat-pho-hien-la-ai-su-tich-va-y-nghia-hanh-nguyen-cuoc-doi-cua-ngai/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/bo-tat-pho-hien-la-ai-su-tich-va-y-nghia-hanh-nguyen-cuoc-doi-cua-ngai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 10 Apr 2023 14:31:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết Phật sự]]></category>
		<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Hoạt động phật sự]]></category>
		<category><![CDATA[Phật giáo vs Xã hội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://chuacoam.com/?p=7447</guid>

					<description><![CDATA[<p> “Phổ Hiền cổ Phật hiện thân raThường cưỡi trên voi trắng sáu ngàThu nhiếp quần sinh vào nguyện hảiDạo chơi cõi Phật khắp hằng sa”. Sự tích và hạnh nguyện Bồ tát Phổ Hiền Trước khi rời nhà để học Đạo giáo, đức Phổ Hiền là con trai thứ tư của vua Vô Tránh Niệm và...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/bo-tat-pho-hien-la-ai-su-tich-va-y-nghia-hanh-nguyen-cuoc-doi-cua-ngai/">Bồ Tát Phổ Hiền là ai? Sự tích và ý nghĩa hạnh nguyện cuộc đời của Ngài</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p> “Phổ Hiền cổ Phật hiện thân ra<br />Thường cưỡi trên voi trắng sáu ngà<br />Thu nhiếp quần sinh vào nguyện hải<br />Dạo chơi cõi Phật khắp hằng sa”.</p>
<p><strong>Sự tích và hạnh nguyện Bồ tát Phổ Hiền</strong></p>
<p>Trước khi rời nhà để học Đạo giáo, đức Phổ Hiền là con trai thứ tư của vua Vô Tránh Niệm và được gọi là Năng-đà-nô. Theo lời khuyên của vua cha, tân hoàng tử quyết định cúng dường Đức Phật và tất cả chúng sinh trong ba tháng. Lúc đó, quan đại thần Bảo Hải đã nhìn thấy và thuyết phục ông nếu Ngài có lòng làm được việc thiện thì hãy hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề mà cầu được thành Phật.</p>
<p>Thái tử Năng-đà-nô ngay lập tức nói với Phật Bảo Tạng sau khi nghe lời khuyên giác ngộ, nguyện phát tâm Bồ Đề, tu thành Bồ tát.</p>
<p>Đức Bảo Tạng Như Lai nói ngay sau khi nghe lời tuyên thệ giúp chúng sinh thoát khỏi đau khổ của Năng-đà-nô thái tử nên đã gọi Ngài là Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức. Sau khi đã thực hiện nhiều công việc Phật sự lớn nên được đến thế giới Bất Huyền thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai.</p>
<p>Ngài đã tu chăm chỉ để trở thành một vị Phật ở cõi Bất Huyền và hóa thành thần ở nhiều nơi trên thế giới để giáo hóa chúng sinh.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-7448" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/tuyen-tap-hinh-pho-hien-bo-tat-dep-nhat-25.jpg" alt="" width="519" height="720" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/tuyen-tap-hinh-pho-hien-bo-tat-dep-nhat-25.jpg 519w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/tuyen-tap-hinh-pho-hien-bo-tat-dep-nhat-25-216x300.jpg 216w" sizes="auto, (max-width: 519px) 100vw, 519px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>10 hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát</strong></p>
<ul>
<li>Lễ Kính Chư Phật: Hạnh nguyện này của Bồ Tát Phổ Hiền muốn nói về việc tin sâu vào mười phương chư Phật và tự thanh tịnh về 3 nghiệp đó là thân &#8211; khẩu &#8211; ý của bản thân để có thể tự lễ kính chư Phật.</li>
<li>Xưng Tán Như Lai: Đây là hạnh nguyện muốn chỉ sử dụng các loại âm thanh cũng như ngôn từ để có thể xưng tán được công đức vô cùng sâu dày của các Như Lai.</li>
<li>Quảng Tu Cúng Dường: Có thể sử dụng thêm pháp để cúng dường, chẳng hạn như pháp tu hành, lợi ích của chúng sinh, chịu khổ thay cho chúng sinh, không xả hạnh Bồ Tát… Trong các loại cúng dường như hoa man, âm nhạc, y phục hây các loại hương hoa, thì dùng Pháp để cúng dường được xem là thù thắng nhất.</li>
<li>Sám Hối Nghiệp Chướng: Đây là hạnh nguyện để thanh tịnh cho 3 nghiệp mà chúng sinh đã gây ra đó là Tham &#8211; Sân &#8211; Si có từ vô thủy kiếp quá khứ và xuất hiện cho tới nay. Nhờ vào hạnh nguyện này để xin phát lồ sám hối hết thảy và nguyện sẽ không tái phạm lại những ác nghiệm trên.</li>
<li>Tùy Hỷ Công Đức: Hạnh nguyện thứ 5 này có nội dung là hoan hỷ và tán thán thiện pháp cùng các công đức của hết thảy chư Phật. Nó bao gồm có hết thảy pháp thế gian và hết thảy xuất thế gian. Cùng với đó chính là hết thảy của công đức các vị Bồ Tát, Thanh Văn và Bích Chi Phật hay công đức của những dạng loài có trong tứ sinh…</li>
<li>Thỉnh Chuyển Pháp Luân: Ý muốn nói đến việc ân cần, và lòng thành kính trong sử dụng những lời nói, hành động và ý nghĩ. Kèm theo đó là sử dụng các phương pháp khác nhau để có thể thỉnh mời được Chư Phật tuyên thuyết diệu pháp.</li>
<li>Thỉnh Phật Trụ Thế: Hạnh nguyện này muốn khuyên bảo tất cả các vị Phật, các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cùng với những vị Thiện tri thức hãy vì lợi ích của mị chúng sanh và dừng nhập Niết Bàn.</li>
<li>Thường Tùy Phật Học: Hạnh nguyện này muốn nói rằng đạo Phật không phải là đạo để thuyết giảng và cũng không phải đạo của các nghi thức thờ phượng. Không phải tối ngày chúng ta tụng niệm những gì mà Phật dạy mà thay vào đó cần phải thể hiện ngay trên bản thân thông qua từng lời ăn, tiếng nói, cách cư xử, hành động lúc nào cũng cần phải tự tại, an nhiên, uy nghiêm nhưng phải có sự từ bi.</li>
<li>Hằng thuận chúng sinh: Từ vô thủy chúng sinh đã sống trong tham dục. Vì vậy hàng Bồ Tát tu theo Phật cũng phải dựa vào tham dục mà chúng sinh đáng sống cùng để giáo hóa được chúng sinh. Bồ Tát cũng dựa vào đây để giảng về lòng tham và giúp chúng sinh tu phước.</li>
<li>Phổ giai hồi hướng: Ý nghĩa của hạnh nguyện này là chuyển sự thành công của bản thân với lòng biết ơn tới tất cả mọi người. Đồng thời đây là sự khiêm tốn, là sự chia sẻ niềm vui với mọi người.</li>
</ul>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-7451 size-full" src="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/1352TPG.jpg" alt="" width="700" height="1520" srcset="https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/1352TPG.jpg 700w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/1352TPG-138x300.jpg 138w, https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2023/04/1352TPG-472x1024.jpg 472w" sizes="auto, (max-width: 700px) 100vw, 700px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ý nghĩa tên gọi của Bồ Tát Phổ Hiền</strong></p>
<p>Phổ Hiền Bồ Tát là một trong hai vị Đại Bồ Tát thị giả cho Đức Phật Thích Ca để hoằng dương giáo Pháp ở cõi Ta Bà. Ngài cưỡi trên một con voi sáu ngà, tay cầm quyển sách, chiếc bút. Sáu ngà chính là biểu trưng cho &#8220;Lục Độ&#8221; (bố thí, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định và trí tuệ), tức là Đức Phổ Hiền cưỡi con voi lục độ đi vào cuộc đời, làm lợi ích cho tất cả tha nhân. Phổ Hiền Bồ Tát là một trong Tứ đại Bồ tát, Ngài là điển hình cho hạnh nguyện rộng lớn. &#8220;Phổ&#8221; là biến khắp, &#8220;Hiền&#8221; là Đẳng Giác Bồ Tát.  nên có thể hiểu Phổ Hiền là Đắc Giác có năng lực hiện thân khắp nơi, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ.</p>
<p>Tượng Phổ Hiền Bồ Tát thường được thấy với diện mạo phúc hậu, tôn nghiêm và có nhiều trang sức, cưỡi voi trắng sáu ngà, tay cầm bông sen,.. Những hình ảnh đó mang ý nghĩa cho sự từ bi, cứu khổ phò nguy, giúp chúng ta tránh xa mọi cạm bẫy, gặp dữ hóa lành, thịnh vượng về công danh, tài lộc, thuận duyên trong cuộc sống.</p>
<p>Chúng ta thờ Bồ Tát Phổ Hiền là thờ vị Bồ Tát của trí tuệ và hạnh nguyện. Hằng ngày kính lễ Ngài, chúng ta phải tự tỉnh ăn năn tránh xa mọi ảo vọng, trở về với chân lý. Cùng với đó, khi kính lễ Ngài, chúng ta hãy học đòi theo hạnh nguyện rộng lớn của Ngài, hãy đập tan đi cái vỏ ích kỷ hẹp hòi của chúng ta để hòa mình trong hạnh nguyện mênh mông của Bồ Tát. Chừng nào chúng ta còn mang theo cái vỏ ích kỷ là còn khổ đau, còn chìm đắm, phải gỡ bỏ nó đi thì chúng ta mới nhẹ nhàng vượt khỏi muôn lớp trùng dương khổ não và đến được bến bờ an vui.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/bo-tat-pho-hien-la-ai-su-tich-va-y-nghia-hanh-nguyen-cuoc-doi-cua-ngai/">Bồ Tát Phổ Hiền là ai? Sự tích và ý nghĩa hạnh nguyện cuộc đời của Ngài</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/bo-tat-pho-hien-la-ai-su-tich-va-y-nghia-hanh-nguyen-cuoc-doi-cua-ngai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đức Phật có phải là hóa thân của Thượng Đế?</title>
		<link>https://chuacoam.com/duc-phat-co-phai-la-hoa-than-cua-thuong-de/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/duc-phat-co-phai-la-hoa-than-cua-thuong-de/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:06:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1026</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ngay cả thế giới hiện nay, có một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã tìm mọi phương cách nhằm hấp thụ đức Phật vào tín ngưỡng của họ với mục đích thu hút được tín đồ Phật giáo theo đạo của họ. Lý do cơ bản khiến họ làm như vậy là vì bằng...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/duc-phat-co-phai-la-hoa-than-cua-thuong-de/">Đức Phật có phải là hóa thân của Thượng Đế?</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Ngay cả thế giới hiện nay, có một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã tìm mọi phương cách nhằm hấp thụ đức Phật vào tín ngưỡng của họ với mục đích thu hút được tín đồ Phật giáo theo đạo của họ. Lý do cơ bản khiến họ làm như vậy là vì bằng cách tuyên thuyết rằng chính đức Phật đã tiên đoán rằng một vị Phật khác sẽ xuất hiện trên cõi đời này và vị Phật sau cùng sẽ trở nên phổ quát hơn.&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp; Đức Phật không bao giờ tuyên bố Ngài là con hay sứ giả của thần linh Thượng đế.Đức Phật là một chúng sanh độc nhất đã phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vo thượng. Không có một ai mà ngài xem như là bậc đạo sư của mình. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Thông qua sự thanh tịnh tâm thức, ngài đã mở những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; không có một bậc đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị.<br>&nbsp;&nbsp; Ngài quá đặc biệt và bức thông điệp của Ngài quá chiếu sáng đến mức độ nhiều người thắc mắc không biết Ngài là gì chứ không thắc mắc nhiều về Ngài là ai? Những câu hỏi về Ngài là ai liên quan đến danh xưng, tuổi tác, nguồn gốc xuất thân, tổ tiên v.v…trong khi đó câu hỏi Ngài là gì liên quan đến địa vị của con người mà Ngài được tôn xưng. Ngài quá ‘thần thánh’ và cảm kích đến nỗi ngay cả vào thời Ngài, có nhiều người đã toan phong Ngài lên như là thượng đế hoặc là sự hoá thân của thượng đế. Ngài không bao giờ đồng ý với sự tấn phong như thế. Trong kinh Tăng Chi Bộ, Ngài nói: “Quả thực Như Lai không phải là một thiên thần, không phải là một Càn-thát-bà, chẳng phải là quỷ thần, cũng chẳng phải là người. Hãy biết rằng Như Lai là một vị Phật”. Sau khi giác ngộ, đức Phật không thể được phân loại như là một chúng sanh bình thường như mọi chúng sanh khác bởi lý do Ngài đã là một vị Phật, một chủng tộc đặc biệt hoặc là một loài chúng sanh đã giác ngộ. Tất cả các Ngài đều là Phật.<br>&nbsp;&nbsp; Đôi lúc chư Phật thị hiện nơi cõi đời này, song có một số người đã nhầm lẫn ý kiến cho rằng đó là một vị Phật tương tự đã được hoá thân hoặc là xuất hiện trên cõi đời này nhiều lần. Trên thực tế, không chỉ có một đức Phật duy nhất mà có vô lượng vô biên đức Phật, nếu không thì không một ai có hy vọng chứng được quả vị Phật. Người Phật tử tin rằng tất cả mọi người đều có thể thành Phật nếu vị ấy tu tập những phẩm hạnh thành tựu và có thể đoạn trừ hoàn toàn những gốc rễ của vô minh nhờ vào những nỗ lực của tự thân. Sau khi giác ngộ, tất cả chư Phật đều như nhau xét về phương diện chứng đắc và kinh nghiệm Niết-bàn.<br>&nbsp;&nbsp; Tại Ấn Độ, tín đồ của nhiều nhóm tôn giáo chính thống đã tìm đủ mọi phương cách để chỉ trích đức Phật bởi vì chính giáo lý khai phóng của Ngài đã cách mạng hoá xã hội Ấn độ thời bấy giờ. Nhiều người xem Ngài như là kẻ thù không đội trời chung trong khi số học thức ngày càng tăng cũng như nhiều người thuộc nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội quy y tôn giáo của Ngài. Khi những người này thất bại trong sứ mệnh tiêu diệt Ngài, thì họ thay đổi chiến lược và gán cho Ngài với danh hiệu là hoá thân của một trong những vị thần linh của tôn giáo họ. Bằng cách này họ có thể hấp thụ Phật giáo vào tôn giáo của họ. Ơû một mức độ nào đó, chiến lược này có thể thành công tại Ấn Độ bởi vì qua nhiều thế kỷ nó đã góp phần cho việc làm suy tàn Phật giáo và hậu quả là nhổ tận gốc rễ Phật giáo khỏi mảnh đất thiêng liêng đã sinh ra Phật giáo.<br>&nbsp;&nbsp; Ngay cả thế giới hiện nay, có một số nhà lãnh đạo tôn giáo đã tìm mọi phương cách nhằm hấp thụ đức Phật vào tín ngưỡng của họ với mục đích thu hút được tín đồ Phật giáo theo đạo của họ. Lý do cơ bản khiến họ làm như vậy là vì bằng cách tuyên thuyết rằng chính đức Phật đã tiên đoán rằng một vị Phật khác sẽ xuất hiện trên cõi đời này và vị Phật sau cùng sẽ trở nên phổ quát hơn. Một nhóm người đã phong cho một vị đạo sư đã trú vào khoảng thời gian 600 năm sau khi đức Phật Cồ Đàm nhập diệt là vị Phật sau cùng. Một nhóm khác lại cho rằng đức Phật tiếp theo đã đến Nhật Bản vào thế kỷ 13. Song có một nhóm khác lại tin rằng bậc sáng lập tôn giáo của họ đã xuất thân từ một dòng của những bậc đạo sư vĩ đại (như đức Phật Cồ Đàm và chúa Giê su) và cho rằng bậc đạo sư đó là đức Phật sau cùng. Những nhóm tín đồ này khuyên giới Phật tử nên từ bỏ đức Phật cổ xưa của mình và nên tôn thờ một đức Phật được gọi là mới xuất hiện này. Mặc dầu việc họ đã đặt đức Phật ngang hàng với địa vị Bậc đạo sư của họ cũng là một việc làm tốt đẹp, song chúng ta cảm thấy rằng những nỗ lực nhằm thu hút người Phật tử vào tôn giáo của họ bằng cách giải thích sai lệch chân lý quả thật là một việc làm vô cùng xúc phạm.<br>&nbsp;&nbsp; Những kẻ cho rằng đức Phật mới đã ra đời rõ ràng là xuyên tạc những gì đức Phật đã dạy. Mặc dù đức Phật tiên đoán sự xuất hiện của đức Phật vị lai, song Ngài đã đề cập một số điều kiện cần phải được đáp ứng trước khi sự kiện này có thể xảy ra. Đó là bản chất tự nhiên của quả vị Phật mà đức Phật trong tương lai sẽ không thị hiện mãi cho đến khi nào thọ mạng của đức Phật hiện tại vẫn còn trên thế gian này. Ngài sẽ thị hiện chỉ khi Pháp Tứ Thánh Đế và Bát Chánh Đạo hoàn toàn bị lãng quên. Con người sống lúc bấy giờ sẽ được hướng dẫn đúng cách để hiểu được chân lý tương tự do chư Phật trong quá khứ thuyết giảng. Chúng ta hiện đang sống trong thọ mạng của đức Phật Cồ Đàm. Mặc dù giới hạnh của con người, với một số trường hợp ngoại lệ, đã bị suy đồi, đức Phật vị lai sẽ chỉ thị hiện ở một thời điểm không thể tính toán được khi mà loài người hoàn toàn bị lạc trên con đường đưa đến Niết-bàn và lúc mà nhân loại đang sẵn sàng chào đón Ngài.&nbsp;<strong><em>HT.&nbsp; K.Sri.Dhammananda<br>Thích Quảng Bảo dịch</em></strong><br></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/duc-phat-co-phai-la-hoa-than-cua-thuong-de/">Đức Phật có phải là hóa thân của Thượng Đế?</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/duc-phat-co-phai-la-hoa-than-cua-thuong-de/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lòng chân thành của đức Phật</title>
		<link>https://chuacoam.com/long-chan-thanh-cua-duc-phat/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/long-chan-thanh-cua-duc-phat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:04:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1023</guid>

					<description><![CDATA[<p>Trải qua thời gian vân du khắp nơi vì tứ chúng tuyên giảng giáo pháp, một hôm Phật gọi các thầy Tỳ kheo về Linh Thứu sơn. Lần này Thế Tôn thăng tòa im lặng không nói chi, chỉ đưa cành hoa sen lên rồi nhìn khắp đại chúng. Mọi thầy đều ngơ ngác, duy...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/long-chan-thanh-cua-duc-phat/">Lòng chân thành của đức Phật</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Trải qua thời gian vân du khắp nơi vì tứ chúng tuyên giảng giáo pháp, một hôm Phật gọi các thầy Tỳ kheo về Linh Thứu sơn. Lần này Thế Tôn thăng tòa im lặng không nói chi, chỉ đưa cành hoa sen lên rồi nhìn khắp đại chúng. Mọi thầy đều ngơ ngác, duy chỉ một mình Tôn giả Ðại Ca Diếp chúm chím mỉm cười. Và từ đó, câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” đã trở thành Thánh sử bất diệt.<br>&nbsp;&nbsp; Trong kinh kể lại, đêm Thế Tôn thành đạo dưới cội bồ đề, cõi Ta bà mưa hoa, nhạc trời vang lừng, trần gian ngập tràn trong ánh sáng giác ngộ của Như Lai, vui không tưởng được. Nhưng lạ thay, ngay lúc ấy Thế Tôn lại muốn nhập diệt, một quyết định trái ngược với ý chí xuất gia ban đầu. Rõ ràng hôm vượt thành xuất gia, Thế Tôn đã vì muôn loài mà quyết lòng tìm đường giải thoát, bỗng dưng bây giờ Ngài đổi ý. Chẳng lẽ Ðức Phật không còn thương chúng sanh nữa sao?<br>&nbsp;&nbsp; Thế là các Trời đoanh vây, tha thiết khẩn cầu Ðức Phật: “Bạch Thế Tôn! Cúi mong Ngài vì lòng từ bi thương xót chúng con và chúng sanh đời sau tuyên dương chánh pháp, khiến cho tất cả muôn loài được thoát khỏi trầm luân sanh tử&#8221;. Phật vẫn lặng thinh không nói. Chư Thiên thưa thỉnh mãi không thôi, Như Lai mới bảo: “Không phải Ta không muốn nói pháp giáo hóa chúng sanh, nhưng vì Ta sợ nói ra không ai tin”. À ra!<br>&nbsp;&nbsp; Nhưng có chi đâu, thì Ngài cứ nói, ai tin được thì tin, không tin thì thôi. Tại sao Ðức Phật không thể làm như vậy? Bởi Ngài sợ chúng sanh khi đã mất niềm tin và nhất là niềm tin với chính mình thì muôn đời khó lấy lại. Khó nhất là điều Như Lai muốn nói lại không thể nói. Dù cố gắng uốn ba tấc lưỡi gượng nói ra, chúng sanh cũng không tin, nên thà không nói còn hơn. Có thế Ngài mới giữ được niềm tin cho chư Phật đương lai, dù là niềm tin chưa xuất hiện, nhưng vẫn không bị đánh mất. Về điểm này, ta chưa thành Phật thì không hiểu Ngài là chuyện đương nhiên thôi.<br>&nbsp;&nbsp; Chư Thiên không chịu rút lui, cứ nài nỉ thỉnh cầu mãi, cuối cùng buộc lòng Thế Tôn phải khai mở, lập bày phương tiện vì chúng sanh tuyên dương chánh pháp. Tam tạng Thánh giáo ra đời từ đó, nhưng Ngài dặn dò kỹ lắm: Ðây chỉ là phương tiện thôi nha, đừng có chấp cứng vào đó rồi sanh sự với Như Lai. Thật lòng Phật trước sau vẫn như một, không nói.<br>&nbsp;&nbsp; Trải qua thời gian vân du khắp nơi vì tứ chúng tuyên giảng giáo pháp, một hôm Phật gọi các thầy Tỳ kheo về Linh Thứu sơn. Lần này Thế Tôn thăng tòa im lặng không nói chi, chỉ đưa cành hoa sen lên rồi nhìn khắp đại chúng. Mọi thầy đều ngơ ngác, duy chỉ một mình Tôn giả Ðại Ca Diếp chúm chím mỉm cười. Và từ đó, câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” đã trở thành Thánh sử bất diệt.<br>&nbsp;&nbsp; Chuyện cười dễ quá, mình cũng cười nhưng chẳng ai thèm để ý tới, chẳng ai ghi vào sách. Tại vì chúng ta không có được nụ cười như Tôn giả Ca Diếp. Một nụ cười mà Ðức Phật đã chờ đợi rất lâu. Kể từ khi bắt đầu cất bước độ sanh, đến lúc này Thế Tôn mới thấy vui thật sự, vì thoát được cái oan làm khó chúng sanh lúc ban đầu, “không chịu nói pháp”. Mà thật ra bây giờ Phật cũng có nói chi đâu? Thế nhưng, trong sự im lặng sấm sét như thế, khắp thiên hạ tìm được một kẻ tri âm, quả thật không phải là dễ. Cho nên Thế Tôn trao truyền chánh pháp nhãn tạng cho Tôn giả ngay tức thì, người đã đáp lại lòng mong đợi của Phật, hiểu Phật, là Phật.&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp; Ðã là Như Lai thì chưa bao giờ Ðức Phật dối gạt chúng sanh dù nửa lời. Những gì nói được, Thế Tôn đã nói hết, những gì không thể nói, Như Lai không nói mà cũng không giấu. Thì đó, có Tôn giả Ðại Ca Diếp làm chứng cho Phật rồi. Vậy mà Ngài vẫn chưa yên lòng, sợ sau này ngôn năng làm loạn, nên hôm sắp nhập Niết bàn, Ðức Phật đinh ninh nhắn nhủ như vầy: “Suốt 49 năm Như Lai chưa từng nói một câu”. Thế đấy, Ðức Phật ở chặng đầu, chặng giữa, chặng rốt sau đều thủy chung như nhất, không hở môi. Bởi vì Phật rất chân thành.<br>&nbsp;&nbsp; Nhờ thế, những gì Phật muốn trao truyền lại cho chúng ta đến nay và mãi mãi về sau vẫn còn. Còn vì nó không sanh nên không diệt, không hề gian dối. Và tuyệt hơn thế nữa, còn vì tất cả chúng sanh đã có, đang có và sẽ có niềm tin rằng “Ta là Phật sẽ thành”. Từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm của đấng Cha lành thật không gì sánh bằng. Phải như thế mới gọi là “chân thành”. Còn chúng ta nói nhiều quá thành ra nói bậy, nói dối, nói để làm khổ cho nhau. Vậy mà người ta vẫn ngang nhiên bảo mình nói thật.<br>&nbsp;&nbsp; Thế gian thường thề thốt với nhau: Dù cho biển cạn núi mòn, “lòng này” vẫn không thay đổi. Nghe như thật! Làm gì có chuyện đó, mà nếu có chăng nữa, e rằng “lòng này” đã bị xơ cứng bởi vô minh si ái mất rồi. Cuộc đời là một dòng luân lưu, biến đổi không dừng, làm sao với một tâm vô thường mà lại không bao giờ thay đổi? Các pháp sanh diệt không thật, làm sao nói thật được. Vậy mà ta nói được, nói hoài, mới lạ chứ!<br>&nbsp;&nbsp; Ðã đến lúc ngôn năng cần phải khép lại. Ta cũng nên ngồi tịnh lặng ngắm lá xanh, ngắm dòng sanh diệt đi qua từng hơi thở, để thấy sự chân thành của Ðức Như Lai len lỏi trong từng nhịp đập tử sinh. Ta có mặt nơi đây thấy nghe, nói năng, động tịnh đầy đủ. Biết rõ như thế là được rồi, sướng rồi, đừng nghĩ ngợi lung tung nữa. May ra từ những sự thật hiển nhiên đó, bất chợt ta có được nụ cười chúm chím ngàn năm. Chừng ấy ta mới hiểu hết lòng chân thành của Như Lai là tuyệt đối, nan tư nghì.<br><br><strong><em>Hạnh Chiếu</em></strong></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/long-chan-thanh-cua-duc-phat/">Lòng chân thành của đức Phật</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/long-chan-thanh-cua-duc-phat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đức Phật của thế kỷ chúng ta</title>
		<link>https://chuacoam.com/duc-phat-cua-the-ky-chung-ta/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/duc-phat-cua-the-ky-chung-ta/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:03:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1020</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng giáo pháp của Ngài sẽ rực rỡ an trú ở thế gian này trong một thời gian thôi, tiếp theo đó nhân loại đi vào thời tượng pháp. Tượng có nghĩa là na ná, là giống như; tượng pháp có nghĩa là giáo pháp giống như...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/duc-phat-cua-the-ky-chung-ta/">Đức Phật của thế kỷ chúng ta</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng giáo pháp của Ngài sẽ rực rỡ an trú ở thế gian này trong một thời gian thôi, tiếp theo đó nhân loại đi vào thời tượng pháp. Tượng có nghĩa là na ná, là giống như; tượng pháp có nghĩa là giáo pháp giống như chánh pháp, nhưng không hẳn là chánh pháp. Tiếp theo thời tượng pháp, là thời mạt pháp, thời giáo pháp suy đồi và ẩn một. Khi đó, một đức Phật khác sẽ ra đời để khai mở cho nhân loại một kỷ nguyên chính pháp mới: đó là đức Phật Di Lặc&#8230;<br>Phật tử khi gặp những bước khó khăn và những cảnh tượng bất như ý trên con đường hành đạo, thường hay thở than “đời mạt pháp mà” với một ý thức cam chịu tiêu cực, đôi khi chán nản nữa. Đời mạt pháp có nghĩa là giai đoạn Chánh pháp đã suy vong, suy vong từ nội dung đến hình thức, suy vong từ nhận thức đến hành trì. Mạt pháp có nghĩa là giáo pháp đã đến lúc cùng mạt. Ý thức rằng giáo pháp đã đến thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn, ai mà chẳng nản? Nhưng chúng ta không đau xót mấy vì ý thức ấy, bởi vì chúng ta còn mang một niềm hy vọng chan chứa trong tâm hồn: đó là niềm hy vọng ở Đức Phật tương lai, Đức Phật Di Lặc. Đức Phật Di Lặc sẽ ra đời và Chánh pháp lại sẽ được tỏ rạng. Mỗi khi nghĩ đến Đức Di Lặc, tôi cứ tưởng tượng đó là một vị Phật có hào quang sáng ngời bao quanh thân thể phương phi đẹp đẽ, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đang phóng quang thuyết pháp cho đại chúng nhân thiên nghe. Ngài ngự trên pháp tòa cao rộng, và tôi, tôi đang được quỳ dưới chân Ngài, tai nghe lời Ngài, mắt thấy thân Ngài và mũi ngửi hương áo cà sa của Ngài. Tôi thích quá. Và tôi đã chờ đợi (&#8230;).<br>Trên đây là những điều tôi mong ước, suy nghĩ, tưởng tượng và dự đoán trong thời gian tôi còn ấu thơ. Các bạn định hỏi tôi rằng hiện giờ tôi còn có tin như vậy nữa thôi, có phải không? Vâng, tôi còn tin như vậy, nhưng mà dưới một nhận thức khác hơn, và tôi nghĩ, gần với đạo Phật hơn. Tôi thấy hình dung đức Phật Di Lặc mà tôi phác họa trong trí tôi dạo ấy có vẻ công thức quá, và ngây thơ nữa. Hình dung ấy, tôi đã cấu tạo nên bằng những đoạn tả đức Phật thuyết pháp trong các kinh điển, bằng những bức họa về Phật của người Trung Hoa và bằng những tưởng tượng quy ngưỡng của riêng tôi. Tôi nghĩ rằng không lý đức Phật lại xuất hiện ở thế kỷ chúng ta với một hình thức cổ điển và có tính cách hình thức như vậy. Đức Phật của thế kỷ chúng ta sẽ là bậc Chánh biến tri, thông hiểu văn hóa sử nhân loại trên trái đất chúng ta, thấu đạt mọi ý thức hệ hiện hữu soi rõ mọi tình tiết và tâm niệm của chúng ta. Ngài sẽ tạo nên nền văn hóa tổng hợp của nhân loại, vạch con đường giải thoát cho nhân loại. Chúng ta đang bị tắc lối, chúng ta đang bị ràng buộc bởi bao sợi dây khổ đau, vô minh, phiền não, những thập triền thập sử mà thế kỷ đã tạo nên và chúng ta đã dùng để tự buộc chúng ta. Trong kinh điển mới, sẽ có những danh từ mới. Trong công cuộc hoằng pháp mới sẽ có những phương thức mới. Trong sự tu tập giải phóng con người &#8211; ta và kẻ khác &#8211; sẽ có những phương pháp mới. Làm sao những cái hết sức hiện đại như vậy có thể biểu dương trong một hình thức cổ điển và ngây ngô như tôi đã tưởng tượng mười mấy năm về trước?&nbsp;</p>



<p>Có một hôm, tôi đọc kinh Kim Cương đến các câu “bất khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai” (không thể nhận thức Đức Như Lai qua một sắc thân có ba mươi hai tướng đẹp) và “nhược dĩ sắc kiến ngã dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai” (kẻ nào muốn thấy Ta qua hình sắc và âm thanh, kẻ ấy hành tà đạo, chẳng bao giờ thấy được Ta), bất giác chợt hiểu rằng Đức Phật của thế kỷ chúng ta sẽ không dễ mà nhận biết được đâu. Ngài có thể không mang tên Từ Thị Di Lặc; Ngài có thể không mang sắc thân tam thập nhị tướng; Ngài có thể không tự xưng là Phật đà gia (Buddhaya); Ngài có thể không cần hai vị đứng hầu hai bên; Ngài có thể không khoác y màu vàng; Ngài có thể&#8230; ôi tôi biết nói làm sao cho hết, chỉ biết nói rằng Ngài có thể xuất hiện trong bất cứ một hình thức nào, miễn Ngài là Bậc Chánh biến tri, miễn Ngài là Bậc giải nguy cho nhân loại trong thế kỷ đấu tranh kiên cố, miễn Ngài là Bậc tạo nên văn hóa tổng hợp và dẫn đạo cho loài người về hòa bình, hạnh phúc, giác ngộ và Niết Bàn. Nói một cách khác, Ngài là Bậc đại nhân có một nội dung tràn đầy Phật chất.</p>



<p><br>Tôi nói dông dài như trên chẳng qua chỉ là để trở về với hai chữ mạt pháp. Bởi vì tôi quan niệm rằng nguyên do của sự mạt pháp là tại ở người Phật tử từ lâu chỉ có ý hướng bảo bọc sơn thếp một hình thức tôn giáo không còn chứa đựng nội dung Phật chất.</p>



<p><br>Mạt pháp có nghĩa là bám víu tôn thờ chấp chặt hình thức mà để cho nội dung tàn lụi. Nhưng mà các bạn hãy cho tôi nói thẳng những cảm nghĩ chân thành của tôi. Phật chất cần thiết mà tôi nói đây là sự chứng đắc, là sự tiếp xúc thường xuyên giữa tâm linh và chân lý, giữa tâm linh và bản thể, giữa tâm linh và Niết bàn. Phật chất ấy không biết đến hình thức, không biết đến hưng phế, không biết đến tổ chức, không biết đến bàn cãi, không biết đến quy chế, không biết đến lo toan, không biết đến vôi gạch. Không biết, nhưng mà cái gì cũng biết. Nghĩa là có sự hiện hữu của Phật chất thì tất cả đều có. Và nghĩa là nếu không có sự hiện hữu của Phật chất thì tất cả những cái kia đều là vô nghĩa, đều không có.</p>



<p><br>Vậy thì Pháp mà mạt không phải là do chúng ta không giữ gìn nó mà chính vì chúng ta đã giữ gìn nó chặt chẽ quá, ôm ấp nó kỹ lưỡng quá.</p>



<p><br>Và một ngày kia, chúng ta sẽ đau khổ nhìn thấy, trong vòng tay cứng nhắc và siết chặt của ta, nó chỉ còn là một cái xác không hồn. Cái xác sơn phết bóng lộn.</p>



<p><br>Vấn đề là vấn đề thực hiện, thực hiện liên tục nguồn sinh hoạt Phật chất, chứ không phải là vấn đề cố thủ, bảo bọc.</p>



<p><br>Đạo pháp chỉ có sinh lực trong những thời đại có tu tập, có chứng ngộ. Chúng ta không nên chờ đợi Đức Di Lặc một cách quá ngây thơ. Chúng ta phải sửa soạn đón tiếp Ngài.</p>



<p><br>Sửa soạn như thế nào? Sửa soạn một khung cảnh nhân tâm hướng thiện, một khung cảnh thực chất của đạo pháp, xứng đáng làm nơi ngự tọa của một Đức Phật. Khung cảnh ấy được xây dựng bằng cộng nghiệp hướng thượng của chúng ta, của tâm linh chúng ta. Không còn chỗ nào xứng đáng cho Ngài ngự tọa hơn là ngôi vị trong sạch của tâm hồn ta. Bằng không, Ngài có thể xuất hiện bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào mà chúng ta vẫn không hay không biết, bởi vì mắt chúng ta mù lòa, bởi vì tâm chúng ta vẩn đục, bởi vì hai tay chúng ta bị trói chặt trong dây xiềng hình thức.</p>



<p><br>Tôi tin rằng thế giới chúng ta đã quá đau thương, và Ngài đã hiện về hoặc sẽ hiện về. Văn hóa loài người đang đi tới thế tổng hợp. Ngài sẽ là bậc hướng đạo quang minh cho toàn thể nhân loại. Đừng than phiền đời này là đời mạt pháp. Hãy buông bỏ hình thức. Hãy phủi sạch hai tay. Hãy đứng lên, gạt qua những mối tơ vò của thế kỷ. Hãy để tâm hồn trong sạch lắng đọng. Và hãy tiếp nhận hình bóng tròn đầy của mặt trăng đêm rằm xuất hiện trong biển lặng tâm linh của mình.</p>



<p><br>Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng giáo pháp của Ngài sẽ rực rỡ an trú ở thế gian này trong một thời gian thôi, tiếp theo đó nhân loại đi vào thời tượng pháp. Tượng có nghĩa là na ná, là giống như; tượng pháp có nghĩa là giáo pháp giống như Chánh pháp, nhưng không hẳn là Chánh pháp. Tiếp theo thời tượng pháp, là thời mạt pháp, thời giáo pháp suy đồi và ẩn mật. Khi đó, một Đức Phật khác sẽ ra đời để khai mở cho nhân loại một kỷ nguyên chính pháp mới: đó là Đức Phật Di Lặc.</p>



<p><br>Đức Phật Thích Ca là một Bậc Giác ngộ, một Đấng Pháp vương. Nhưng Ngài đã nói tiếng nói của con người. Vì Ngài đã là một con người đã sống trong xã hội loài người, đã khai thị chân lý vì con người, cho nên ta có thể, trên bình diện con người của chúng ta, nhận thức được nội dung của tiếng nói Ngài một cách chân xác. Khi Ngài nêu lên một khoảng thời gian phỏng định cho sự lưu hành của chính pháp Ngài, Ngài đã căn cứ trên những nhận định lúc bấy giờ của Ngài về xã hội, về thời gian. Quan niệm về năm tháng của Ngài, cũng như của bất cứ một người nào đã sống cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, không thể giống như quan niệm về năm tháng của chúng ta, những con người sống trong thời đại mới. Nhân loại xã hội trong thời đại chúng ta đã và đang đi những bước khổng lồ về tương lai chứ không phải đã và đang trôi một cách chậm chạp lững lờ như vào khoảng sáu trăm năm trước Tây lịch. Như vậy, ta không nên lấy 5.000 năm ước định để làm khoảng thời gian chia cách hai Đức Phật, Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Di Lặc. Chỉ nên nhớ rằng: Khi Phật pháp đã tới thời cùng mạt, nói một cách khác hơn, khi nhân loại đã đi đến giai đoạn cùng cực nhất vì loạn lạc, vì phân tán, vì khổ đau, thì đó chính là lúc Đức Phật Di Lặc phải xuất hiện để mở một con đường mới cho xã hội loài người.<br>Pháp mà mạt là do chúng ta đã không cố gắng thực hiện dòng sinh hoạt Phật chất ở bản thân và ở những hình thái sinh hoạt của xã hội chúng ta. Chúng ta chỉ lo bảo tồn những hình thái sinh hoạt cũ không đáp ứng được với căn cơ của xã hội và do đó không thể hiện được những nguyên lý Phật học. Những nguyên lý ấy hết sức linh động, và ta chỉ có thể nói rằng những sinh hoạt nào muốn khế lý bao giờ cũng phải khế cơ. Vì sao? Khế lý là để khế cơ. Mục đích của đạo Phật là phụng sự con người, nếu không khế hợp con người thì sao gọi là đạo Phật, sao gọi là khế hợp với chân lý đạo Phật?<br>Mà căn cơ của con người mới, của xã hội mới là những căn cơ hết sức phiền toái, phức tạp. Ai cũng nhận thấy rằng con người mới có những ao ước, những đòi hỏi, những thao thức&#8230; nói tóm lại, những sinh hoạt tâm lý hết sức phiền tạp. Con người mới lại sống trong một thời đại mới, một thế giới mới, một xã hội mới với những sinh hoạt kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn học&#8230; không còn giống gì với xã hội cũ cách đây hàng ngàn năm. Làm gì có thể khế cơ được (ít nhất là khế cơ một cách hoàn toàn), những hình thức sinh hoạt của hai ngàn năm trăm năm về trước? Trong kinh có chép chuyện một vị thiền sư vì lòng từ bi không muốn giẫm đạp lên các sinh vật cho nên mỗi khi đi đâu đều có cầm một cây chổi, quét một lát chổi, đặt một bước chân. Vào thời xưa, trong khung cảnh nên thơ của thôn làng, hành vi đó được nhận định là đẹp như một bài thơ nhân ái, nói lên được tâm niệm từ bi của một con người thấm nhuần đạo lý. Nhưng giá bây giờ có một vị Tăng bắt chước làm y hệt như thế trên những con đường của Sài Gòn chẳng hạn, ta thử đoán xem quần chúng sẽ nghĩ như thế nào về vị Tăng đó? Quần chúng sẽ cho đó là một người không bình thường, hành động đó đã không khế hợp với căn cơ của con người bây giờ (kể cả căn cơ của người chủ động), lại cũng không còn khế hợp với những nguyên lý Phật học, mà trái lại, có thể làm mai một các nguyên lý ấy nữa. Không khế lý, không khế cơ con người, những lề lối sinh hoạt như trên làm sao được gọi là đạo Phật và đã không phải là đạo Phật, tại sao chúng ta cố thủ chặt chẽ như thế?</p>



<p><br>Vậy thì sự xuất hiện của Đức Phật Di Lặc phải được nhận định như là một cuộc vận động mới để làm sống dậy dòng sinh hoạt Phật chất trong những sinh hoạt vừa khế hợp căn cơ nhân loại, vừa khế hợp với những nguyên lý Phật giáo. Nếu không khế hợp căn cơ con người, những sinh hoạt được mệnh danh là của Đạo Phật chỉ có thể còn là những xác cũ không còn chứa đựng Phật chất; nếu không khế hợp với những nguyên lý Phật học, những sinh hoạt kia sẽ có thể chỉ là ma nghiệp phục vụ cho lòng dục vọng và óc u mê của ma vương, của chúng sinh. Lịch sử đạo pháp đã ghi những nét son của những cuộc biến cải cần thiết để làm sống dậy rạt rào những khí lực của Phật giáo: Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước v.v&#8230; đều là những nhà đại cách mệnh của Phật giáo. Gia sản văn hóa hiện hữu mà chúng ta được thừa hưởng của Phật giáo ở Á Đông một phần lớn chính là do công trình tạo dựng của những bậc trượng phu như thế.</p>



<p><br>Các bậc vĩ nhân kia đều là những nhà đại văn hóa, những nhà đạo học đã thấu hiểu được con người của thời đại họ, đã thấu hiểu xã hội của thời đại họ, và đã đáp ứng được những nhu yếu của những khu vực văn hóa riêng biệt trong đó họ đang sống. Nhưng bây giờ thì khác. Chúng ta không có những khu văn hóa riêng tư nữa. Những khu vực văn hóa đều đã mở cửa rộng rãi. Những ranh giới văn hóa đã được tháo tung. Nhân loại đang tiến tới nền văn hóa tổng hợp. Công cuộc tổng hợp vĩ đại này phải do một con người đầy đủ kiến thức về con người, đầy đủ nhận định về xã hội con người, đầy đủ trí năng và tâm thức để có thể hướng dẫn loài người, đứng ra lãnh đạo. Một nhà văn hóa có đầy đủ chánh biến tri, có đủ đại hùng, đại bi, đại lực, đại nguyện như thế, ta phải gọi đó là một Đức Phật. Đó là Đức Phật Di Lặc, Con Người cấp thiết của thế kỷ chúng ta.</p>



<p><strong>Thiền sư Nhất Hạnh</strong></p>



<p><br><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (</em><em>Trích theo</em><em>&nbsp;<strong>Đạo Phật đi vào cuộc đời</strong>)</em></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/duc-phat-cua-the-ky-chung-ta/">Đức Phật của thế kỷ chúng ta</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/duc-phat-cua-the-ky-chung-ta/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này</title>
		<link>https://chuacoam.com/su-phuc-vu-cua-duc-phat-cho-the-gian-nay/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/su-phuc-vu-cua-duc-phat-cho-the-gian-nay/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:00:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1017</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/su-phuc-vu-cua-duc-phat-cho-the-gian-nay/">Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực. Không có lúc nào mà Ngài không chỉ ra sự yếu đuối và nỗi đam mê thấp hèn của con người. Giới hạnh của đức Phật là tấm gương hoàn hảo nhất mà thế gian đã từng chứng kiến.</p>



<p><em>Đức Phật thị hiện nơi cuộc đời này nhằm mục đích xua tan cái bóng tối của vô minh và chỉ cho nhân loại con đường đi đến sự đoạn tận của khổ đau.</em></p>



<p>&nbsp; Đức Phật là sự hiện thân của tất cả những phẩm hạnh do Ngài thuyết giảng. Trong suốt 45 năm thực hiện thành công sứ mệnh và để lại những sự kiện quan trọng của Ngài, Ngài đã chuyển dịch tất cả những ngôn từ, lời nói của Ngài thành những hành động cụ thể thiết thực. Không có lúc nào mà Ngài không chỉ ra sự yếu đuối và nỗi đam mê thấp hèn của con người. Giới hạnh của đức Phật là tấm gương hoàn hảo nhất mà thế gian đã từng chứng kiến.</p>



<p>&nbsp; Hơn 25 thế kỷ, hàng triệu con người đã tìm thấy nguồn cảm hứng và sự khuây khoả nơi giáo lý của Ngài. Sự vĩ đại của Ngài vẫn còn toả sáng mãi cho đến ngày nay giống như mặt trời chói sáng rực rỡ hơn ánh sáng mờ đục của những vật sáng kém hơn. Giáo pháp của Ngài vẫn vẫy tay mời gọi phái đoàn hành hương mệt lã người đến nơi an toàn và cảnh giới an lạc của Niết-bàn. Không có một nhân vật nào ngoài Ngài đã hy sinh quá nhiều những thú vui vật chất của mình vì nỗi khổ đau của nhân loại.</p>



<p>&nbsp; Đức Phật là bậc đạo sư đầu tiên trong lịch sử nhân loại khiển trách và chống lại nghi thức tế lễ động vật cho quỷ thần vì bất cứ một lý do nào khác và kêu gọi nhân loại không nên làm hại các loài sinh vật sống.</p>



<p>&nbsp; Đối với đức Phật, tôn giáo không phải là một sự giao kèo trong mua bán mà là một con đường đưa đến sự giác ngộ. Ngài không muốn chư đệ tử Ngài tin một cách mù quáng mà Ngài muốn họ hãy suy nghĩ một cách tự do và thông thái.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;<em>Toàn thể nhân loại trên thế gian này được ban phước bằng sự hiện hữu của Ngài.</em></p>



<p>&nbsp; Chưa từng có khi nào đức Phật bày tỏ thái độ không thân thiện đối với một ai. Thậm chí đối với những địch thủ và kẻ thù xấu xa nhất của Ngài, Ngài cũng không bày tỏ thái độ không thân thiện đối với họ. Có một vài người mang đầu óc thành kiến muốn chống đối lại Ngài và tìm mọi cách giết hại Ngài; song đức Phật không bao giờ đối xử với họ như là kẻ thù. Có một lần đức Phật nói:</p>



<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow"><p>“Ta như voi giữa trận,</p><p>Hứng chịu cung tên rơi,</p><p>Chịu đựng mọi phỉ báng,</p><p>Ác giới rất nhiều người”. (PC-320)</p></blockquote>



<p>&nbsp; Trong biên niên sử thế giới, chưa có một nhân vật nào có thể được công nhận là đã tự hiến dâng quá nhiều cho những lợi ích của chúng sanh như đức Phật đã làm. Ngay từ giây phút giác ngộ cho đến lúc nhập diệt, Ngài phấn đấu không biết mệt mỏi để nâng cao địa vị con người. Ngài chỉ dành hai tiếng đồng hồ trong một ngày cho việc ngủ nghỉ của mình. Mặc dù 25 thế kỷ đã trôi qua kể từ khi bậc đạo sư vĩ đại này đã nhập diệt, song thông điệp về tình thương và trí tuệ của Ngài vẫn còn hiện hữu trong hình thức thuần khiết tinh khôi. Thông điệp này vẫn có ảnh hưởng quan trọng đối với vận mệnh của nhân loại. Ngài là bậc thầy từ bi nhất đã làm toả sáng thế gian này bằng tình thương và lòng nhân từ.</p>



<p>&nbsp; Sau khi nhập Niết-bàn, đức Phật đã để lại một bức thông điệp bất tử vẫn còn gái trị đối với chúng ta. Ngày nay, chúng ta phải đương đầu với một sự đe doạ kinh hoàng về nền hoà bình của thế giới. Không có thời điểm nào trong lịch sử thế giới mà bức thông điệp của Ngài lại cần thiết hơn như hiện nay.</p>



<p>&nbsp; Đức Phật thị hiện nơi cõi đời này nhằm mục đích xua tan đi cái bóng tối của vô minh và chỉ cho nhân loại cách chấm dứt khổ đau và bệnh tật, già và chết và tất cả những nỗi lo lắng và khổ sở của kiếp sống nhân sinh.</p>



<p>&nbsp; Theo một số tôn giáo, một số vị thần linh thỉnh thoảng sẽ xuất hiện trên cõi đời này để tiêu diệt những con người ác độc và che chở cho những con người lương thiện. Ngược lại, đức Phật không thị hiện trên cõi đời này để tiêu diệt những kẻ ác mà là để chỉ cho họ con đường đi đúng đắn.</p>



<p>&nbsp; Trong lịch sử thế giới mãi cho đến thời kỳ đức Phật, chúng ta đã từng nghe bất cứ một vị đạo sư nào có tấm lòng chan chứa tình yêu thương và nỗi cảm thông đối với nỗi khổ đau của nhân loại như đức Phật chăng? Đồng thời với đức Phật, chúng ta nghe một số triết gia thông thái tại Hy Lạp như: Socrates, Plato và Aristole và nhiều nhà hiền triết khác, song họ chỉ là những triết gia, những nhà tư tưởng và những nhà đi tìm chân lý; họ thiếu đi tình yêu thương cảm kích đối với nỗi khổ đau của nhân loại.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Con đường cứu độ nhân loại của đức Phật là dạy cho họ cách làm thế nào để tìm được sự giải thoát, an lạc. Ngài không quan tâm đến việc làm dịu một vài trường hợp liên quan đến chứng bệnh về thân và tâm. Ngài quan tâm nhiều hơn với việc tiết lộ con đường mà tất cả mọi người có thể đi theo.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Chúng ta hãy đem tất cả những triết gia, tâm lý gia, khoa học gia, nhà duy lý, những nhà cải cách xã hội, những tư tưởng gia vĩ đại và những vị đạo sư của các tôn giáo khác, với một tinh thần không thiên vị, so sánh sự vĩ đại, đức hạnh, tinh thần phục vụ và trí tuệ của chư vị đối với đức hạnh, lòng từ bi và sự giác ngộ của đức Phật. Chúng ta có thể hiểu được địa vị của đức Phật đứng ở đâu trong số tất cả những bậc vĩ nhân này.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;<strong><em>Nhân quyền và ngũ giới của Phật giáo</em></strong></p>



<p>&nbsp; Khái niệm nhân quyền xuất phát trong giai đoạn hiện đại. Chúng ta không tìm thấy một từ ngữ nào biểu thị khái niệm này trong ngôn ngữ Sanskrit hoặc Pàli. Thay vì nói quyền, những trách nhiệm được đề cao trong những nền văn hoá được tượng trưng bởi những thứ ngôn ngữ này. Đó không phải là một sự trùng hợp xa lạ rằng từ trách nhiệm, hoặc pháp trong cổ ngữ Sanskrit hoặc Pàli cũng tượng trưng cho chân lý. Nền tảng của triết học dường như đó là trách nhiệm đưa đến chân lý. Tuy nhiên, trong Anh ngữ, từ quyền (right) có hai nghĩa: đó là chân lý và yêu sách. Theo chức năng xã hội của nền triết học Đông phương, việc hoàn thành nhiệm vụ của một người nào đó đưa đến sự hoàn tất quyền của những người khác.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Khi chúng ta so sánh sự ảnh hưởng về mặt xã hội của những trách nhiệm với những quyền, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng một bầu không khí hài hoà và hợp tác lẫn nhau có thể thịnh hành trong một xã hội khi mà trách nhiệm được đề cao, trong khi đó có thể tính chất bất đồng và cạnh tranh sẽ không còn hiện hữu nếu mỗi người có thói quen khẳng định những quyền hạn của anh ta hoặc cô ta.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Sự thiếu vắng một thuật ngữ đơn lẻ biểu thị những quyền của con người không có nghĩa những nền văn minh cổ đại ở Đông phương không có những phương thức bảo vệ nhân quyền. Nhân quyền ở đây được đi kèm với một lối diễn đạt vòng quanh tế nhị mà con người thậm chí không ý thức rõ ag rằng anh ta đang thụ hưởng những quyền nhất định như thế chính từ lúc mới sinh ra đời. Cơ chế là sự tình nguyện chấp nhận của mỗi người và mỗi một người phải tuân thủ giữ 5 giới cấm.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Mỗi con người trong xã hội được mong đợi phát nguyện không sát hại sanh mạng. Sinh mạng hay sự sống là thiêng liêng và con người không nên vi phạm mà phải tôn trọng sự sống. Khi thái độ phi bạo lực này được lan&nbsp; truyền rộng rãi thì quyền được sống của mỗi cá nhân sẽ tự động được thoả nguyện. Hơn thế nữa, thái độ phi bạo lực này đảm bảo sự an toàn của mỗi con người, sự thân thiện và từ tâm trong xã hội, phát huy những mối quan hệ hài hoà giữa các cá nhân trong xã hội.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Giới thứ hai mà con người phải tuân giữ là tình nguyện không nên trộm lấy những gì không cho. Nguyện không biển thủ là để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của mọi con người. Yù thức về sự bảo vệ tài sản cho nhau tạo ra một bầu không khí của sự tin tưởng lẫn nhau trong xã hội. Một xã hội như thế là xã hội hoàn toàn tự do và dân chúng có thể tận tâm chính mình cho sự nghiệp theo đuổi những nghề nghiệp mà họ đã chọn lựa mà không cần bổn phận phải bảo vệ tài sản của họ với sự lo âu.&nbsp;&nbsp; Giới thứ ba cấm con người không nên quan hệ tình dục một cách trái với luật pháp. Giới này bảo vệ quyền của mỗi cá nhân chọn lựa một&nbsp;Hòa thượng K.Sri.Dhammananda<em>Thích Quảng Bảo dịch</em></p>



<p></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/su-phuc-vu-cua-duc-phat-cho-the-gian-nay/">Sự phục vụ của Đức Phật cho thế gian này</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/su-phuc-vu-cua-duc-phat-cho-the-gian-nay/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Mùa Hoa Vô Ưu</title>
		<link>https://chuacoam.com/mua-hoa-vo-uu/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/mua-hoa-vo-uu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 02:50:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1014</guid>

					<description><![CDATA[<p>Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Một mùa Phật đản đã đến, mùa trăng rằm tháng tư 2555 năm về trước đã đi vào lịch sử Phật Giáo và trong lòng bao người con Phật. Hôm nay đây, trong không khí hân hoan khắp hành tinh đang tưng bừng cờ hoa chào...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/mua-hoa-vo-uu/">Mùa Hoa Vô Ưu</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Một mùa Phật đản đã đến, mùa trăng rằm tháng tư 2555 năm về trước đã đi vào lịch sử Phật Giáo và trong lòng bao người con Phật. Hôm nay đây, trong không khí hân hoan khắp hành tinh đang tưng bừng cờ hoa chào đón ngày thiêng liêng của Phật. Đó là ngày Ngài xuất thế vào thế giới Ta Bà, ngày Ngài đản sanh trong niềm hạnh phúc ngập tràn của Chư Thiên và toàn nhân loại.&nbsp;Bảy bước sen vàng nâng gót Ngọc<br>Ba ngàn thế giới đón Như Lai<br>Kính lạy đức Thế Tôn!<br>Ngài đã xuất hiện rất nhẹ nhàng từ cung trời Đâu Xuất đi vào hông hoàng hậu Ma Gia bằng một chú voi ngà trắng. Tiếp sự kiện vi diệu đó Ngài lại nhẹ nhàng đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni dưới gốc cây vô Ưu bằng bảy bước sen nở nâng gót chân Ngài . Ngài đản sanh bằng sự chào đón của mấy tầng trời người và Chư Thiên các cõi. Ôi! Ngài xuất hiện đẹp quá, có lẽ không có giấy bút nào ghi nổi. Con là kẻ hậu thế sanh vào thời vắng bóng Ngài nhưng qua kinh sách con cảm nhận được niềm hạnh phúc đang dâng lên trong lòng như chính mình là một trong những người dân thành Ca Tỳ La Vệ thời ấy…Bởi chính Ngài là ánh sáng giác ngộ tuyệt đối, là chân lý vĩnh cửu, là một bậc vĩ nhân siêu việt, một bậc Đại Giác Ngộ giải thoát của Ta Bà suốt hơn 2500 năm qua.<br>Kính lạy đức Thế Tôn!<br>Từ khi có ánh sáng chân lý của Ngài soi sáng, tất cả chúng con như được gột rửa đi lớp áo bụi trần của Ta Bà ô trược. Ngài đã cho chúng con hiểu được sự sống thiêng liêng, sự giải thoát nội tâm vượt ra những toan tính ích kỷ của kiếp người. Chúng con hiểu được sự hy sinh cao cả của Ngài vì một chân lý bất diệt để cứu nhân loại thoát cảnh đắm chìm trong lục đạo trầm luân. Con hiểu rằng thế gian là một ngôi nhà lửa với sức nóng không thể đo được bằng con số cụ thể, con nhận thấy thế gian còn tối hơn đêm đen bao trùm&#8230;Và rồi Ngài đã xuất hiện, nguyện đem trái tim mình hiện thân thành ngọn đuốc sáng tỏa như muôn ngàn ánh sao giữa bầu trời đêm để dìu dắt nhân loại bước qua. Ngài hiện thân thành những cơn mưa pháp, những giọt cam lồ tưới mát xoa dịu những sân hận vô minh của chúng con đang rực cháy. Và cũng hôm nay đây, con được nương tựa vào ánh quang minh của Ngài để biết trải lòng mình trước mọi sự vật hơn…Và rồi, những buồn thương sân hận trước kia con cố bám víu nuôi dưỡng trong tâm mình để chờ ngày bừng phát thì hôm nay con thanh thản nhìn nhận nó như một lý tự nhiên của cuộc sống. Giờ đây, Ngài đã cách xa chúng con hơn 25 thế kỷ nhưng sự tôn kính Ngài trong chúng con luôn sống mãi. Tháng tư trăng rằm thật đẹp, ánh trăng như nhắc nhở chúng con nhớ về cội nguồn tâm linh. Trăng như bóng Ngài đang trên cao soi bước đàn con đang ngụp lặn trong biển trần đầy bão tố biết giác ngộ quay về với cái tâm chân thật của chính mình. Trăng rằm tháng tư tròn đầy khắp cả vũ trụ nhân sinh mêng mông thiêng liêng như tình thương của Ngài dành trọn cho chúng sinh các cõi.<br>Kính lạy đức Thế Tôn!<br>Có lẽ với những người con Phật thì ngày đẹp nhất trên thế gian chính là ngày Ngài đản sanh và ánh trăng đẹp nhất trong năm cũng là trăng rằm tháng tư âm lịch. Ngày đó của 2555 năm về trước thế giới Ta Bà rung chuyển, Chư Thiên chào đón Ngài &#8211; một bậc Đại Giác Ngộ đản sanh. Ngài hiện thân bằng hình hài nhỏ bé nhưng trí tuệ Ngài là một bậc Thánh siêu phàm, tâm của Ngài ôm trọn tình thương dành cho nhân loại. Suốt cuộc đời Ngài hi sinh vì lý tưởng thiêng liêng để đem về cho chúng sinh một chân lý bất diệt dẫn dắt nhân loại đến sự giải thoát khổ đau. Kể từ khi ánh sáng giác ngộ của Ngài soi vào tất cả mọi nơi đêm đen lạnh lẽo của thế gian thì nơi đêm đen biến thành bình minh ấm áp, chúng con tri ân Thế Tôn vô hạn. Ngài đã cho chúng con hiểu được lẽ sống tươi sáng của cuộc đời, Ngài đã cho chúng con hiểu được vô thường của cuộc sống, Ngài đã giác ngộ chúng con biết con đường chánh giác giải thoát tuyệt đối và một niềm tin bất diệt không phai. Bằng tấm lòng từ bi, trí tuệ, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn tâm bằng cả trái tim mình để soi đường dẫn lối đưa nhân loại về bến giác ngộ bình yên.<br>Kính lạy đức Thế Tôn!<br>Ngày Khánh đản tháng tư, chúng con thành kính chắp tay nguyện cho tất cả mọi người đều biết sống giác ngộ theo tâm từ của Thế Tôn để cuộc đời thêm thương yêu bình đẳng. Chúng con nguyện nhìn nhận cuộc sống bằng cả trái tim biết lắng nghe chia sẻ để cuộc đời được hạnh phúc. Chúng con nguyện là những đóa sen tinh khiết trong vườn hoa Phật Pháp để kính dâng lên Ngài, nguyện sống và thực hành theo những lời di giáo của Thế Tôn đã chỉ dạy.<br>Hạnh phúc thay, Đức Phật giáng sinh<br>Hạnh phúc thay, giáo pháp cao minh<br>Hạnh phúc thay, Chúng Tăng hòa hợp<br>Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu<br>Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật !<br>Phật tử : Liên Hương – Kính bút !<br>Mùa Phật đản PL 2555 – DL 2011

</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/mua-hoa-vo-uu/">Mùa Hoa Vô Ưu</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/mua-hoa-vo-uu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phải hiểu rõ sự niệm Phật</title>
		<link>https://chuacoam.com/phai-hieu-ro-su-niem-phat/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/phai-hieu-ro-su-niem-phat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 02:20:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=992</guid>

					<description><![CDATA[<p>Hôm nay là ngày giỗ kỷ niệm lão pháp sư Ấn Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần thứ mười hai. Quý vị đều là đệ tử của Ngài. Uống nước phải nhớ nguồn, nên quý vị tụ hội tại giảng đường này, làm lễ giỗ truy niệm thầy mình. Trong đạo lý nhà...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phai-hieu-ro-su-niem-phat/">Phải hiểu rõ sự niệm Phật</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Hôm nay là ngày giỗ kỷ niệm lão pháp sư Ấn Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần thứ mười hai. Quý vị đều là đệ tử của Ngài. Uống nước phải nhớ nguồn, nên quý vị tụ hội tại giảng đường này, làm lễ giỗ truy niệm thầy mình. Trong đạo lý nhà Phật, thầy tức là cha mẹ pháp thân của mình. Kỷ niệm thầy, tức là nhắc lại bổn phận hiếu thảo của mình đối với cha mẹ pháp thân. So sánh về sự hiếu thảo nhỏ nhặt ở thế gian thì việc này có rất nhiều ý nghĩa thâm trầm hơn.</p>



<p>Nhớ thuở xưa, lần đầu tôi gặp lão pháp sư Ấn Quang tại núi Phổ Đà vào năm Quang Tự thứ hai mươi. Lúc đó, lão hòa thượng Hóa Văn thỉnh Ngài lên tòa giảng kinh A Di Đà tại chùa Quảng Tế. Giảng xong, Ngài ở lại chùa, đọc hết ba tạng kinh điển. Qua hơn hai mươi năm, Ngài chưa từng rời núi một bước mà đóng cửa ẩn tu. Tuy Ngài hiểu rõ giáo nghĩa rất thâm sâu, nhưng chỉ lấy một câu A Di Đà Phật làm sự tu trì hằng ngày. Tuyệt đối không cho mình thông hiểu kinh giáo thâm sâu mà coi nhẹ pháp môn niệm Phật. Lời dạy của Phật là thuốc dùng để trị bịnh khổ cho chúng sanh. Pháp môn niệm Phật, được gọi là thuốc A Già Đà, trị hết tất cả bịnh.</p>



<p>Thật vậy, vô luận tu pháp môn nào, cần phải có niềm tin kiên cố, giữ gìn mãi mãi, thực hành ngày một thâm sâu, thì mới mong đạt được lợi ích đầy đủ. Nếu có niềm tin kiên cố thì trì chú, tham thiền, niệm Phật đều thành tựu. Nếu tín căn không thâm sâu mà chỉ cậy nhờ chút ít thiện căn, học thức cạn cợt, hoặc nhớ được vài ba danh tướng công án, rồi đi nói chuyện vô ích tạp nhạp hay bàn việc đúng sai thì chỉ tăng trưởng nghiệp chướng và tập khí xấu xa. Dẫu có bàn về việc sống chết, cũng vẫn bị nghiệp thức dẫn dắt. Có thật đáng thương lắm không!</p>



<p>Quý vị là đệ tử của pháp sư Ấn Quang. Hôm nay làm giỗ lễ kỷ niệm, thì cũng phải kỷ niệm sự hành trì chân thật của Ngài. Ngài là một vị chân tu thực thụ vì bước trên đường các bậc cổ đức đã đi. Ngài hiểu rõ thâm ý của chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông. Y theo đó mà khởi tu, nên đạt được niệm Phật Tam Muội. Từ đó, Ngài hoằng dương tông Tịnh Độ, làm lợi ích cho chúng sanh, trải qua bao thập niên mà cũng vẫn như một ngày, chưa từng từ nan thối bước, dẫu có bịnh tật ốm đau. Hiện tại, thật hiếm có ai như Ngài, chân thật tu hành không khởi kiến chấp phân biệt mình người, chỉ nghe một danh hiệu Phật rồi y theo đó mà tu trì. Sáng niệm Phật. Tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi, trong mười hai thời niệm niệm không quên mất. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần thục chín mùi, cảnh tịnh Tây Phương Cực Lạc hiện trước mặt, được lợi ích vô biên, tự mình quán thấy.</p>



<p>Điều quan trọng nhất là tín tâm phải kiên cố. Tín tâm nếu không kiên cố, thì muôn sự không thể thành. Hôm nay tăng, ngày mai giảm; nghe người nói tham thiền hay thì bỏ ngay công phu niệm Phật, chạy qua tu thiền. Nghe người nói học kinh điển rất tốt thì lại bỏ thiền, qua học kinh giáo. Học kinh giáo không thành lại chạy đến trì chú, nhưng chẳng hiểu chi hết. Tâm bị chướng ngại vì không thanh tịnh. Không tự trách mình tín tâm không định, lại cho rằng Phật Tổ dối gạt chúng sanh. Chửi Phật báng Pháp, tạo nghiệp vô gián. Vì thế, tôi khuyên đại chúng rằng phải nên tin tưởng kiên cố sự lợi ích của pháp môn niệm Phật, học theo hạnh &#8220;Chân Thật Niệm Phật&#8221; của lão pháp sư Ấn Quang, rồi lập chí vững chắc, phát tâm dũng mãnh, lấy việc vãng sanh cõi Tây Phương làm việc lớn trong đời.</p>



<p>Tham thiền cùng niệm Phật, đối với người mới phát tâm tu học thì thấy có khác, nhưng đối với người tu hành lâu năm thì chỉ là một. Tham thiền đề cử thoại đầu, chặt đứt dòng sanh tử, cũng từ tín tâm kiên cố mà được. Nếu thoại đầu giữ mãi không được thì tham thiền không thể thành tựu. Nếu tín tâm kiên cố thì đến chết cũng phải tham khán câu thoại đầu. Uống trà không biết đang uống trà. Ăn cơm không biết đang ăn cơm. Như thế, công phu mới thuần thục, thoát khỏi căn trần, đại dụng hiện tiền, cùng cảnh tịnh của công phu niệm Phật, giống nhau không khác. Đạt đến cảnh giới đó, sự lý viên dung, tâm cùng Phật không hai. Phật như như bất động. Chúng sanh cũng như như bất động. Một như như bất động mà không có hai như như bất động, thì sai biệt chỗ nào? Quý vị là những người tu pháp môn niệm Phật. Tôi hy vọng tất cả hãy lấy một câu niệm Phật làm chỗ y tựa cho đời mình. Hãy chân thật mà niệm!</p>



<p><strong><em>Nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang, năm 1952</em><br>Hòa Thượng Hư Vân</strong><br><strong>Dịch Việt: Thích Hằng Ðạt</strong></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phai-hieu-ro-su-niem-phat/">Phải hiểu rõ sự niệm Phật</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/phai-hieu-ro-su-niem-phat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Yếu chỉ pháp trì danh niệm Phật và Kệ gia hạnh tu trì</title>
		<link>https://chuacoam.com/yeu-chi-phap-tri-danh-niem-phat-va-ke-gia-hanh-tu-tri/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/yeu-chi-phap-tri-danh-niem-phat-va-ke-gia-hanh-tu-tri/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 02:17:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=989</guid>

					<description><![CDATA[<p>Khi hạ thủ công phu ở nơi một câu hồng danh của Phật “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” hay là “A DI ĐÀ PHẬT” niệm cho được vừa chừng không quá mau (không gấp), không quá chậm (không hườn) là niệm cho đều đặn. Kế đó là mình phải giử làm sao cho cái...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/yeu-chi-phap-tri-danh-niem-phat-va-ke-gia-hanh-tu-tri/">Yếu chỉ pháp trì danh niệm Phật và Kệ gia hạnh tu trì</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Khi hạ thủ công phu ở nơi một câu hồng danh của Phật “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” hay là “A DI ĐÀ PHẬT” niệm cho được vừa chừng không quá mau (không gấp), không quá chậm (không hườn) là niệm cho đều đặn. Kế đó là mình phải giử làm sao cho cái tiếng niệm Phật cùng với cái tâm của mình phải hiệp khắn nhau. Nghĩa là cái tâm phải duyên theo tiếng, cái tiếng phải nằm ở trong tâm, không để cho nó xao lãng theo một tiếng gì khác</p>



<p><strong>NAM</strong><strong>&nbsp;MÔ A DI ĐÀ PHẬT</strong></p>



<p><strong>Tin sâu &#8211; Nguyện thiết &#8211; Hạnh Chuyên</strong></p>



<p>***</p>



<p>Nam&nbsp;Mô A Di Đà Phật!<br>Không gấp cũng không hườn<br>Tâm tiếng hiệp khắn nhau<br>Thường niệm cho rành rõ</p>



<p>Nhiếp tâm là định học<br>Nhận rõ chính huệ học<br>Chánh niệm trừ vọng hoặc<br>Giới thể đồng thời đủ<br>Niệm lực được tương tục<br>Đúng nghĩa chấp trì danh<br>Nhất tâm phật hiện tiền<br>Tam muội sự thành tựu<br>Đương niệm tức vô niệm<br>Niệm tánh vốn tự không<br>Tâm làm Phật là Phật<br>Chứng lý pháp thân hiện<br>Nam&nbsp;Mô A Di Đà Phật<br>Nam&nbsp;Mô A Di Đà Phật<br>Cố gắng hết sức mình<br>Cầu đài sen thượng phẩm<br>&#8212;&#8212;&#8212;-o0o&#8212;&#8212;&#8212;-</p>



<p><strong>KỆ NIỆM PHẬT</strong><strong>(Hạ thủ công phu)<br></strong><strong>MỘT CÂU A DI ĐÀ PHẬT</strong><strong>KHÔNG GẤP CŨNG KHÔNG HƯỜN</strong><strong>TÂM TIẾNG HIỆP KHẮN NHAU</strong><strong>THƯỜNG NIỆM CHO RÀNH RÕ</strong></p>



<p>Khi hạ thủ công phu ở nơi một câu hồng danh của Phật “<strong>NAM</strong><strong>&nbsp;MÔ A DI ĐÀ PHẬT</strong>” hay là “<strong>A DI ĐÀ PHẬT</strong>” niệm cho được vừa chừng không quá mau (không gấp), không quá chậm (không hườn) là niệm cho đều đặn. Kế đó là mình phải giử làm sao cho cái tiếng niệm Phật cùng với cái tâm của mình phải hiệp khắn nhau. Nghĩa là cái tâm phải duyên theo tiếng, cái tiếng phải nằm ở trong tâm, không để cho nó xao lãng theo một tiếng gì khác, hể nó thoạt mà rời đi thì mình phải nhiếp kéo nó trở lại liền đặng cho nó trụ nơi cái tiếng, như vậy gọi là “<strong>TÂM TIẾNG HIỆP KHẮN NHAU</strong>” nghĩa là cái tâm và cái tiếng không khi nào rời nhau, mà tâm và tiếng không khi nào rời nhau đó mới gọi là thiết thiệt niệm Phật, chớ nếu trong lúc mình niệm Phật mà mình lại tưởng niệm những việc khác đó là mình niệm việc khác, nhớ việc khác, chớ đâu phải là thiệt niệm Phật. Nếu là thiệt niệm Phật thì trong tâm mình chỉ nhớ và tưởng Phật mà thôi. Bây giờ mình niệm Phật , danh hiệu Phật, tất nhiên là mình nhớ và tưởng lấy ở nơi cái tiếng niệm Phật, cái hiệu của Phật, như vậy mới gọi là thiết thiệt niệm Phật. Thành ra mình làm cái gì cũng phải cho thiết thiệt trúng cái đó, chớ nếu sai đi, tất nhiên khó có thể thành công được, do đó mới có câu “TÂM TIẾNG HIỆP KHẮN NHAU.” Nên nhớ kỹ lắm mới được, khi niệm Phật phải nhớ câu đó và phải làm cho đúng theo mới có lợi lạc. Nếu được tâm tiếng hiệp khắn nhau như vậy mới gọi là niệm đúng cách và thiết thiệt.</p>



<p>Giờ đây phải “<strong>THƯỜNG NIỆM CHO RÀNH RÕ</strong>.” Tâm tiếng hiệp khắn nhau rồi, nhưng phải để ý cho nó rành, rành là rành rẽ, tức là từ tiếng, từ câu không có lộn lạo, còn rõ là rõ rành, hể Nam là rõ tiếng Nam, Mô là rõ tiếng Mô, A là rõ tiếng A cho đến Phật thì Phật cái tiếng không trại đi, phải cho thật rõ, vì điều này rất cần lắm, chớ nếu mình niệm mà không nhận cho rành rẽ và rõ ràng, niệm một cách bơ thờ, về sau khi công phu được thuần thục, mà khi thuần rồi, cái niệm trong tâm nó tự nổi lên cũng không rành rỏ, nó hơi trại đi, chớ nếu lúc nào mình cũng giữ cho rành rõ, thì khi thuần thục trong tâm mình nó cũng nổi lên cái tiếng niệm Phật rõ lắm, điều nầy rất quan trọng, nên nhớ chữ “<strong>THƯỜNG</strong>” nếu muốn được cái tâm mà về sau, nó tự niệm lấy nó, không cần mình phải ép buộc nó mới niệm&#8211;phải thường—nghĩa là luôn luôn mình phải niệm cho thật nhiều giờ và thời gian cho được tương tục gọi là thường, chớ nếu trong một ngày, một đêm mà mình chỉ có niệm một hai tiếng đồng hồ thôi, còn 22 tiếng kia mình lại nghĩ việc tào tạp thì biết bao giờ tâm mình mới thuần thục được. Mình phải tập cho nó niệm luôn luôn lâu ngày thành thói quen&#8211;tập quán—nhưng bây giờ mình bận đủ các công việc đâu phải như các vị rãnh rang (cấm túc), kiết thất hay là tịnh niệm, tịnh khẩu chẳng hạn, vậy mình phải làm sao đây? Tất nhiên trong lúc đi đứng nằm ngồi và lúc rãnh cũng bắt cái tâm mình nó niệm Phật, trừ khi nào tâm mình bắt buộc phải chú trọng đến những công việc gì khác, xong rồi, phải nhớ niệm Phật lại. Như lúc mình mặc áo mình cũng vẫn niệm Phật được, đi ngoài đường cũng vẫn niệm Phật được, bởi vì lúc đó cái tâm có thể rảnh để Niệm Phật, như vậy lúc mình ngồi ăn cơm cũng niệm Phật được, hoặc lúc mình nằm nghĩ, chứ không phải chỉ niệm phật lúc mình ở trước bàn thờ Phật, có chuông, có mỏ, quỳ nơi đó, nếu chỉ có như vậy thì khó thuần thục, khó thành thói quen. Về công hạnh niệm Phật điều đó cần phải nhớ lắm mới được.<strong>NHIẾP TÂM LÀ ĐỊNH HỌC</strong><strong>NHẬN RÕ CHÍNH HUỆ HỌC</strong><strong>CHÁNH NIỆM TRỪ VỌNG HOẶC</strong><strong>GIỚI THỂ ĐỒNG THỜI ĐỦ</strong></p>



<p>Trong một câu niệm Phật, mình gồm cả ba môn “Vô lậu học” mà các đệ tử của Phật cần phải thật hành là “<strong>GIỚI, ĐỊNH, HUỆ</strong>.” Như vậy trong câu niệm Phật mà đang thật hành đó nó tương ứng với: GIỚI, ĐỊNH, HUỆ là như thế nào? Đáng lẽ thì bài kệ phải nói là GIỚI trước rồi mới đến ĐỊNH và HUỆ, nhưng vì rằng phải theo việc trình bày, thành ra phải để GIỚI về sau. Trước hết là mình nhiếp tâm niệm Phật, không nghĩ việc gì khác, tâm mình trụ nơi câu niệm Phật thôi, thì đó mình học về môn ĐỊNH. Đây nói là mình học về môn ĐỊNH chớ không phải là mình được ĐỊNH, nhưng mình đã học môn định thì tương ứng với ĐỊNH thì một ngày kia mình sẻ được ĐỊNH. Đó là môn “Vô lậu học” thứ nhất, gọi là “ĐỊNH HỌC.” Kế đó, trong lúc mình niệm Phật thì tâm và tiếng hiệp khắn với nhau, mình lại nhận rõ ràng và rành rẽ tất nhiên trong lúc đó cái tâm mình nó sáng, nó có sáng mới nhận được rành rẽ và rõ ràng, chớ nếu nó không sáng thì làm sao nhận được rành rõ. Cái sáng đó nó tương ứng với HUỆ, đây là môn “Vô lâu học”, thứ hai gọi rằng “HUỆ HỌC”. Và trong lúc mình niệm Phật thì không có những vọng tưởng, đó là chánh niệm. Đã chánh niệm, không vọng tưởng tất nhiên không có những sự lỗi lầm và tương ứng với GIỚI, đây là môn “Vô lậu học” thứ ba gọi rằng môn học về GIỚI. Đó là từ dưới đi lên trên, hay là bắt từ trên trở xuống dưới thì nhiếp tâm thuộc về ĐỊNH HỌC, tâm mình nhận rành rẽ và rõ ràng đối với câu niệm Phật là tâm sáng, tương ứng với HUỆ HỌC và vọng niệm không khởi, chánh niệm hiện tiền không có sự lỗi lầm trong lúc niệm Phật tất là tương ứng với GIỚI. Như vậy trong lúc mình thực hành một câu niệm Phật đủ cả ba môn Vô lậu học (GIỚI, ĐỊNH, HUỆ), mà đã tương ứng với Giới, Định, Huệ rồi một ngày kia khi mà câu niệm Phật được thuần, tất nhiên là mình thành tựu được một lượt cả ba môn Vô Lậu Học, và mình thấy trong hiền đời đã có sự lợi ích rất lớn là mình được cái sư điều nhiếp thân tâm đi vào nới pháp lành, tương ứng với ba môn Vô Lậu Học là ba điều mà đức Phật dạy: Hễ đệ tử Phật, dầu xuất gia hay tại gia đều phải tu và trong tương lai, tất nhiên là nhờ ở nơi tịnh nghiệp mình tu hành đó, sẽ được vãng sanh về Cực Lạc Thế Giới, bảo đảm sự giải thoát thẳng đến thành Phật không thối chuyển. Như vậy, pháp môn “NIỆM PHẬT” nếu mình suy nghĩ kỹ lợi ích biết chừng nao, cần phải noi theo và thực hành cho đúng và phải cố gắng khuyên những người có duyên với mình đều phải TIN, phải NGUYỆN và THỰC HÀNH như mình để cho mình cùng tất cả mọi người đều được lợi ích nơi pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy và đúng theo bản hoài của Ngài là muốn cho tất cả chúng sanh đều được thành Phật.</p>



<p><strong>TÓM LẠI</strong>: Mấy câu kệ trên nói về nơi hạ thủ công phu ở một câu hồng danh của Phật “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” hay là “A DI ĐÀ PHẬT” niệm cho vừa chừng, không quá mau gọi là không gấp, không quá chậm gọi là không hườn, và nơi đó phải nhiếp tâm theo cái tiếng niệm Phật, tâm với tiếng đi đôi với nhau gọi là tâm tiếng hiệp khắn với nhau. Phải niệm cho được nhiều giờ trong ngày đêm. Khi niệm cái tiếng phải cho rõ ràng, nhận cho rành rỏ, nên gọi rằng thường niệm cho rành rõ, kế đó mới hiệp câu niệm Phật của mình cho tương ứng với ba môn “Vô Lậu Học” Giới, Định và Huệ. Khi mình niệm thì nhiếp tâm, không cho tán tâm, trụ nơi cái tiếng niệm Phật, như vậy gọi rằng tâm duyên nơi một cảnh, nghĩa là cái tâm ở một cảnh hồng danh của đức Phật, đó tất nhiên học về môn Định và khi niệm đó thì cái trí rất sáng, nhận cái tiếng niệm Phật rõ ràng, từng câu rành rẻ. Cái trí sáng đó tất nhiên đã tương ứng với môn Huệ Học thì lần lần TRÍ HUỆ PHÁT.</p>



<p>Trong khi mình niệm Phật thì nhiếp tâm nơi chánh niệm, vọng niệm không xen vô, mà vọng niệm không có thì tất nhiên những lỗi lầm không có, vì bao nhiêu những tội nghiệp lỗi lầm đều ở nơi vọng tâm phân biệt mà ra. Nay vọng tâm không có, trụ tâm ở chánh niệm, thì như vậy những lỗi lầm không có, mà giới là chi? Tức nhiên là để ngăn, không cho ở nơi thân khẩu ý tạo tội lỗi. Giờ đây thân khẩu ý trụ nơi câu niệm Phật là chánh niệm không có những tội lỗi, thì đó là tương ứng với Giới. Như vậy, trong một câu niệm Phật, lúc mình chuyên tâm đúng cách thì đầy đủ cả Giới Học, Định Học và Huệ Học. Khi Giới, Định và Huệ mà phát ra thành tựu, cái đó là chứng quả thánh. Giờ đây mới tiếp tục để tiến lần thêm ở nơi cái phần niệm Phật cho nó được nơi Sự Tam Muội hay Lý Tam Muội, tức là chánh định niệm Phật về SỰ và chánh định niệm Phật về LÝ. Theo đúng như trong kinh nói: Người niệm Phật mà được ở nơi cái Sư Tam Muội, chánh định về sự thì khi lâm chung, chắc chắn vãng sanh. Vãng sanh rồi tất nhiên không mất nơi cái phần Trung Phẩm, mà nếu được gồm lý niệm Phật nữa thì khi vãng sanh không mất phần Thượng phẩm. Thượng Phẩm tức là BẬT ĐẠI BỒ TÁT, Trung Phẩm tức là ngang hàng Thánh của Nhị Thừa, thành ra không phải bực thường được. Đây theo nơi bài kệ để tuần tự giảng giải quí đạo hữu nên nghe kỹ và cố gắng để mình đi được bước nào thì được bước nấy.<strong>NIỆM LỰC ĐƯỢC TƯƠNG TỤC</strong><strong>ĐÚNG NGHĨA CHẤP TRÌ DANH</strong><strong>NHẤT TÂM PHẬT HIỆN TIỀN</strong><strong>TAM MUỘI SỰ THÀNH TỰU</strong></p>



<p>Khi niệm Phật nhiếp tâm đúng cách như vậy rồi, niệm mỗi ngày mỗi đêm, niệm được nhiều giờ, nhiều thời gian gọi rằng thường niệm, đã thường niệm rồi trải qua một thời gian tức nhiền cái tâm được thuần thục. Khi tâm được thuần thục rồi thì nó có cái trớn niệm Phật nơi tâm. Lúc đó thì không cần phải tác ý, không cần phải dụng công, nhưng nơi tâm vẫn cứ tiếp tục nổi lên tiếng niệm Phật. Nhớ kỹ là cái tâm nổi lên tiếng niệm Phật, như vậy đó, nó không có gián đoạn nghĩa là đi, đứng, nằm, ngồi gì cũng nhận thấy rằng tâm mình nó vẫn có cái tiếng niệm Phật, không cần phải dụng công tác ý gì hết, đó gọi rằng là được niệm lực tương tục, nghĩa là cái sức chánh niệm nối tiếp, cho nên biết rằng cái lúc mà mình tác ý dụng công thì mình phải cố gắng lắm cái tâm mới chịu duyên theo ở nơi cái tiếng niệm Phật, mà rồi thật ra trong lúc đó tâm nó có nhiều khi, ở nơi mình, cái miệng thì có niệm Phật, cái tiếng có phát ra mà cái tâm nhiều khi nó nhận câu thứ nhất, câu thứ nhì nó lơ là hay là ở trong câu niệm Phật đó nó nhận tiếng Phật tiếng A gì đó, mà tiếng Nam, tiếng Mô nó lơ là, còn giờ đây cái tâm tự động nó niệm Phật do sau khi mình niệm Phật được thường lâu ngày nó thuần thục, nói lâu ngày đây, chớ cái trình độ này có người chỉ trong một ngày đêm có thể được, nếu căn trí lanh lợi và tinh tấn. Có người chừng bảy ngày đã được rồi, còn người niệm Phật không được thường lắm thì phải thành ra lâu. Nếu được cái sức niệm ở nơi tâm tự động nó niệm gọi là&nbsp;<strong>BẤT NIỆM TỰ NIỆM</strong>&nbsp;đó thì được cái chánh niệm nối tiếp luôn kêu là&nbsp;<strong>NIỆM LỰC ĐƯỢC TƯƠNG TỤC</strong>, thì đó mới đúng nơi cái nghĩa&nbsp;<strong>CHẤP TRÌ DANH HIỆU</strong>&nbsp;mà trong kinh Di Đà các đạo hữu thường tụng đó.</p>



<p>Thường thường người tụng kinh Di Đà ít có để ý, bởi vì lời Phật nói ra không phải là cái thông thường, mình phải cần để ý lắm. Hễ phật nói nhất tâm thì nhất định là cái tâm phải chuyên nhất thôi, không được xen gì hết mới gọi là nhất tâm, còn Phật nói nhất niệm thì tất nhiên cái niệm phải cột nó lại một chỗ mới gọi là nhất niệm. Giờ đây Phật nói rằng chấp trì danh hiệu thì tất nhiên ở nơi danh hiệu đức Phật, nơi hồng danh đức Phật A Di Đà hay Nam Mô A Di Đà Phật thì phải nắm cầm cho chắc, nắm cầm đó là cái tâm nắm cầm cho chắc không lúc nào rời và không để cho cái gì xen tạp vô, như vậy gọi rằng cái tâm nó chỉ nắm cầm hay là giữ chắc không rời câu niệm Phật, mới gọi là niệm Phật tương tục, dù không niệm cái tâm nó vẫn tự niệm, nói gọn lại là bất niệm tự niệm và cái chánh niệm đó được nối tiếp gọi là tượng tục. Đó mới thiệt là cái nghĩa chấp trì danh hiệu ở trong kinh Di Đà. Nên cuối câu kệ gọi rằng: Niệm lực được tương tục. Đúng nghĩa chấp trì danh.</p>



<p>Khi mà niệm lực được tương tục rồi, nắm giữ lấy danh hiệu của Đức Phật mà không có cái tạp niệm xen vô thì trong một thời gian cái tâm nó dừng lại, lìa hết tất cả cảnh ngũ trần, nghĩa là sắc, thanh, hương, vị, xúc nó không có duyên nừa. Lúc đó dầu có con kiến cắn cũng không hay, nghĩa là lìa nơi xúc trần, dầu có mùi hương thoãng cũng không biết là lìa nơi hương trần và cho đến có tiếng chi một bên tai cũng không nghe, có cái chi ở trước mắt cũng không thấy, dầu lúc đó mỡ mắt, mà cái tâm chỉ duyên rành rẽ ở nơi câu niệm Phật và chỉ có nhận câu niệm Phật mà thôi lúc đó trong thì quên thân, ngoài không duyên theo cảnh, cái tâm nó đứng lặng là nhất tâm bất loạn. Khi được như vậy thì trong kinh Vô Lượng Thọ có nói lúc đó Phật thân hiện, Phật A Di Đà hiện, cho đến Phật cảnh Cực Lạc hiện, nên câu kệ gọi rằng: “<strong>NHẤT TÂM PHẬT HIỀN TIẾN</strong>.” Đó là thành tựu được Sự Tâm Muội, câu kệ gọi rằng: “<strong>TAM MUỘI SỰ THÀNH TỰU</strong>.” Chánh định thuộc về sự, cái tâm mình trụ ở nơi câu niệm Phật, trong thì quên thân, ngoài không duyên theo cảnh và lúc đó Phật và thánh cảnh hiện, nó thuộc về sự tướng. Nếu người mà đuợc ngang nơi đây, thơi gian sau, khi vãng sanh bảo đảm ở nơi Trung Phẩm, tức nhiên ngang với hàng thánh của Nhị Thừa. Còn nếu được niệm lực tương tục đúng nghĩa chấp trì danh ở trên là bảo đảm vãng sanh, nhưng mà trong phẩm vị thì chưa chắc Phẩm nào, còn tùy theo ở nơi thiện căn công đức của người tu hành.<strong>ĐƯƠNG NIỆM TỨC VÔ NIỆM</strong><strong>NIỆM TÁNH VỐN TỰ KHÔNG</strong><strong>TÂM LÀM PHẬT LÀ PHẬT</strong><strong>CHỨNG LÝ PHÁP THÂN HIỆN</strong></p>



<p>Bây giờ do nơi chánh định thuộc về sự thì cái tâm nó đứng lặng, do cái tâm đứng lặng đó, thành trí huệ phát—trí huệ đây gợi là Vô lậu trí huệ hay là thánh trí phát. Do nơi phát đó, thành ra lúc đó toàn thể tự tâm bổn tánh nó hiển hiện, trong Thiền Tông gọi rằng minh tâm kiến tánh. Lúc đó đã thấy nơi bổn tánh rồi, mà bổn tánh thì tức nhiên không phải là cái tánh riêng của một cái gì hết, nó cũng là cái tánh của tâm mà cũng là cái tánh của Pháp, nó là cái tánh nói chung của tất cả Pháp. Mà đã là cái tánh của tất cả Pháp rồi thì đương lúc niệm Phật đó cái tâm nó trụ ở nơi câu niệm Phật, nơi sự niệm Phật. Chính ở nơi sự niệm Phật đó lại tỏ ngộ, thấy là vô niệm. Cho nên biết rằng cái thể tánh chân thật của tất cả các pháp, nghĩa là không luận của tâm hay là của sắc đều là cái tánh không tịch cả. Đã không tịch tất nhiên nó không có cái sự gì và cũng không có cái tướng gì hết, cho nên nói cái thể tánh chân thật nó như vậy. Do đó mới tùy duyên mà có ra tất cả sự, tất cả Pháp. Vì vậy nên khi tỏ ngộ bổn tâm tự tánh rồi thì thấy cái chánh niệm mình đương niệm đó tức là vô niệm gọi là&nbsp;<strong>ĐƯƠNG NIỆM TỨC VÔ NIỆM.</strong></p>



<p>Mà cái tánh của chánh niệm không phải là mình làm cho nó không, bởi vì bổn lai là không. Cũng như cái tánh của tất cả tâm, cái tánh của tất cả Pháp, bổn lai nó là không tịch.</p>



<p>Do đó cho nên sợ rằng người học đạo không biết, cố ý mà dằn ép cái tâm phải nhận rằng ở nơi niệm cái tánh là không (điều đó không phải). Lúc đó thấy cái niệm là không tánh mà rồi cũng rõ biết cái tánh niệm bổn lai nó là không. Như vậy mới thật là thấy cái thật tánh của niệm, mà nếu thấy cái thật tánh của niệm thì thấy tất cả cái thật tánh của các pháp, bởi vì tất cả pháp đều là một tánh mà thôi.</p>



<p>Cho nên thành ra thấy cái thật tánh của một pháp tất nhiên thấy được cái thật tánh của tất cả pháp. Nên câu kệ mới nói đương niệm, chính lúc đương niệm đó không phải bỏ niệm, mà&nbsp;<strong>GIÁC NGỘ LÀ VÔ NIỆM</strong>. Giác ngộ vô niệm là chi? Tức nhiên là cái niệm tánh không tịch, mà cái niệm tánh không tịch đó là tánh bổn lai của cái niệm, cho nên gọi rằng: “<strong>NIỆM TÁNH VỐN TỰ KHÔNG</strong>” chớ không phải là nó mới không đây. Tại vì trước kia mình mê muội, mình theo sự tướng, mình thấy có thế này, có thế kia đủ thứ hết.</p>



<p>Giờ đây giác ngộ được rồi thì thấy là bổn tánh không tịch, bổn tánh không tịch đó là bổn lai từ nào đến giờ nó đã vẫn không tịch như vậy, chớ không phải mới, do mình tu hành đây rồi nó mới là không, không như vậy …Kế đến câu “<strong>TÂM LÀM PHẬT LÀ PHẬT</strong>” Đồng thời lúc đó phải giác ngộ rằng chính cái tâm của mình đây là chân tâm thật tánh của mình đó. Và rằng ở trên, hể giác ngộ ở nơi cái tâm niệm đó rồi thì thấy rõ rằng cái bổn tâm của mình làm Phật và cái bổn tâm đó chính là Phật. Đó gọi rằng là bổn tâm chân thật. Lúc đó tất nhiên gọi rằng chi? Là đã chứng ở nơi lý tánh, thành tựu ở cái lý Tam Muội niệm Phật và đồng thời pháp thân Phật hiện. Ở nơi trên về cái sự Tam Muội gọi rằng là Phật hiện tiền, lúc đó có Phật ở ngoài mình hiện ra, rồi mình thấy Phật hiện, còn giờ đây, chính tỏ ngộ được ở nơi thân tâm mình làm Phật là Phật. Nên biết rằng cái tỏ ngộ đó không phải lấy ở nơi cái trí suy luận mà tỏ ngộ chính là cái hiện lượng chứng trí lúc đó nhận như vậy, thấy như vậy, chứng như vậy, chớ không phải là cái suy luận. Mà đã chứng ngộ ở nơi bổn tâm mình làm Phật và tức là Phật, vậy Phật và tâm không phải là hai, chính tâm là Phật, Phật là tâm. Như vậy tất nhiên là chứng nơi pháp thân, gọi là pháp thân hiên tiền, lúc đó pháp thân hiện, còn ở trên ở nơi sự tam muội mà Phật hiện đó là Phật sư tướng hiện, sắc thân Phật hiện, còn đây là&nbsp;<strong>PHÁP THÂN PHẬT HIỆN</strong>. Nếu người mà được đến đây rồi, thì khi vãng sanh quyết định ở nơi thượng phẩm, tức là một vì Đại Bồ Tát hiện tại người đó ở tại đây cũng là một vì Đại Bồ tát. Tầng bậc nầy đối với Thiền Tông gọi là Chứng Tâm Tánh, sau khi minh tâm kiến tánh rồi, chứng tâm tánh gọi là đai triệt, đại ngộ, ngang nơi đó. Nhưng ở nơi pháp môn niệm Phật thì hơn nơi Thiền Tông bởi vì ở nơi Thiền Tông đến khi minh tâm kiến tánh hay là chứng nhập ở nơi tự tánh rồi, còn cần phải thêm một thời gian rèn luyện nơi đó để dứt trừ những nghiệp chướng phiền não, còn người niệm Phật thì không như vậy. Bởi vì ngoài cái sự tỏ ngộ ra, chứng nhập ra, còn có cái nguyện lực Phật nhiếp trì, mà đã vào trong nguyện lực của Phật nhiếp trì rồi tất nhiên chẳng những là chứng ngộ nơi cái tự pháp thân mà cũng là ở vào nơi pháp thân của đức Phật A Di Đà. Do đó cho nên không luận là nghiệp chướng, phiền não và tất cả, không luận tới việc đó. Mà sau khi bõ cái thân này rồi về Cực Lạc Thế Giói được vãng sanh ở nơi Thượng Phẩm thì mấy cái đó tự mất. Do đó nên trong kinh quán Vô Lượng Thọ có nói: Người mà được vãng sanh về Thượng Phẩm tức nhiên bực đó gọi rằng ở vào sơ Địa Bồ Tát. Hiện tiền sau khi sanh về có thể dùng cái trí lực và thần thông, nghĩa là liền sau khi sanh về có thể hiện thân làm Phật ở trong 100 thế giới nào không Phật thì vị Bồ Tát đó có thể hiện thân làm Phật để độ chúng sanh. Nên biết rằng mỗi thế giới như vậy là có vô số những tiểu thế giới hiệp lại, cũng như Ta Bà thế giới của mình là có 1000 triệu cái tiểu thế giới hiện lại, nghĩa là 1000 triệu cái thái dương hệ hiệp lại mới thành cái thế giới Ta Bà. Do đó mà khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành Phật rồi thì cái thân hiện ra tới gọi là: “Thiên Bá Ức”, nghĩa là 1000 trăm ức, 1000 trăm lần ức, 1000 trăm ức đó là 1000 tỷ, 1000 tỷ thân Phật Thích Ca chớ không phải chỉ một thân Phật Thích Ca. Đó là nói một thế giới, mà đây vị Bồ Tát ở nơi cái chứng lý pháp thân, nghĩa là ở nơi cái lý Niệm Phật Tam Muội thành tựu rồi, vãng sanh về Cực Lạc Thế Giới, trụ nơi bậc sơ địa có thể dùng thần thông trí huệ hiện thân làm Phật ở trong 100 thế giới không Phật để độ chúng sanh.</p>



<p>Mình thấy pháp môn niệm Phật, nếu bắt từ dưới nhìn lên trên và từ trên nhìn lần xuống dưới, mình thấy cái đường đi rành rẽ hết sức là phân minh. Ở nới đó, mình thấy cũng không đến nổi quá khó, chỉ có khó là mình phải tin, quyết định thực hành tinh tấn và không giải đãi mà thôi. Khó là chịu nhất định để tu và quyết định tinh tấn, chỉ có khó nới đó mà thôi, chớ còn cái việc mà thấy theo sự đắc lực, thì pháp môn niệm Phật không có cái chi là khó lắm, không phải như các pháp môn khác. Vì các pháp môn khác do tự lực, tự lực thành khó, và ở nơi các pháp môn khác mà đến chổ chứng lý pháp thân hiện: Bên Thiền Tông thuộc về vô tướng tu. Vô Tướng Tu đó khó nắm nơi đâu để mà làm trụ cột, để hạ thủ lắm, nếu sai một chút thì thuộc về hữu tướng, mà hữu tướng tất nhiên không phải của Thiền Tông, sai rồi thì không thành tựu được. Còn như theo Pháp Hoa Tông mà tu thì cũng phải tam chỉ tam quán, cái đó không phải dể được. Theo Hoa Nghiêm Tông thì thuộc về pháp giới quán rất khó. Theo như Duy Thức Tông thì phải là Duy Thức Quán, quán chẳng phải dể. Đó là nói những pháp môn thuộc về tự lực tu.</p>



<p>Muốn được đến trình độ gọi là chứng lý pháp thân thì phải trong các tông thuộc về Viên Đốn Đại Thừa, chớ nếu ngoài những tông đó ra mà tu những tông khác thì tất nhiên không thể đến từng đó được. Những tông vừa kể trên tu đến từng này khó lắm, bởi vì ở đó thuộc về tự lực. Còn đây, ngoài tự lực ra thì pháp môn niệm Phật này còn có ở nơi tha lực, tức là nguyện lực của Phật nhiếp trì. Do đó thành ra có sự dễ dàng hơn, bão đảm hơn. Huống nữa là trong pháp môn niệm Phật nầy, nếu mình chỉ được ở nơi cái từng công phu thấp nhất là có cái sự chuyên niệm, nó được tương ứng với nghĩa chấp trì, tất nhiên đó là bảo đảm vãng sanh. Nếu được vãng sanh rồi thì dự vào hàng thánh, được bất thối chuyển nơi đạo vô thượng. Dầu rằng đối với các bậc đạt được Sự Tam Muội Niệm Phật hay Lý Tam Muội Niệm Phật là còn thấp, nhưng kỳ thật khi đã vãng sanh dự vào hành thánh, được bất thối chuyển, nhất là được về Thế Giới Cực Lạc rồi thì không có các sự khổ như là những cảnh duyên nó làm mình xao động, hoặc sự ép buộc ở nơi thời tiết, nhất là việc ăn, việc mặc nó làm mình bận rộn cả ngày đêm. Không có tất cả cái đó thì tất nhiên rãng rang tu hành, mà trong khi rãnh rang đó lại có tiếng gió thổi, tiếng chim kêu, tiếng nước chảy đều phát ra tiếng nói pháp hết, hơn nữa, nơi Cực Lạc Thế Giới, như trong kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, như kinh A Di Đà đó, các đạo hữu cũng thường tụng, thì các Bậc Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát thượng thiện nhân là bạn, và người được vãng sanh sẽ ở chung với bậc đó. Cho nên trong kinh Di Đà có nói: Những người nào mà nghe nơi đây thì phải phát nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc Thế Giới. Tai sao vậy? Vì đồng với các Bậc Thượng Thiện Nhân Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát câu hội một chổ ở chung một chổ.</p>



<p>Như vậy đó thì thấy minh về bên đó rồi thì các bậc Đại Bồ Tát như Quan Thế Âm, Đại Thế Chí và vô số các vị Bồ Tát khác cũng đến cái từng đó, thì mình được ở trong cái hội đó, trong cái xóm đó, nghĩa là nói ngay ra ở chung. Cung điện của mình ở đây thì cung điện của các Ngài ở kia, muốn gặp lúc nào cũng được, muốn hỏi han lúc nào cũng tiện. Và cái hóa thân Phật ở khắp nơi trong Thế Giới Cực Lạc, không có chổ nào không có hóa thân Phật hết. Thành ra muốn thấy Phật lúc nào cũng được, trừ ra những bậc thuộc về thượng phẩm, chứng lý pháp thân. Chừng đó tất nhiên về Thế Giới Cực Lạc mới thấy được báo thân thật của Phật, còn ở những bậc dưới thì thấy hoá thân mà hóa thân cũng như báo thân, bởi vì sự thuyết pháp độ sanh của Phật thì hóa thân báo thân gì cũng giống nhau nhưng cái thân có khác theo trình độ người: Thân lớn, thân nhỏ, cái chổ đẹp nhiều hay là đẹp ít khác nhau, theo cái trí lực ở nơi con mắt thấy nó sai khác, chớ sự giáo hóa cũng đồng. Phật bao giờ cũng theo căn cơ mà thuyết pháp. Do đó cho nên trong kinh nói rằng: Chỉ có nước Cực Lạc là bảo đảm ở nơi con đường thành Phật mà thôi. Như trong kinh A Di Đà Phật nói: Người nào nghe kinh này mà thọ trì tu hành cùng những người đà phát nguyện, đang phát nguyện, sẻ phát nguyện vãng sanh về nước của đức Phật A Di Đà, thì những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nghĩa là người đó sẽ được vãng sanh và được bảo đảm đi thẳng đến thành Phật mà thôi. Do đó, thấy căn cơ của tự mình hiện tại đây cũng như tất cả mọi người trong thời gian này mà rời pháp môn Niệm Phật thì quyết khó bảo đảm giải thoát lắm đừng nói là bảo đảm thành Phật.</p>



<p>Vậy các đạo hữu cũng nên cố gắng tự tu cho tinh tấn, và cũng đem pháp môn Niệm Phật chỉ dậy người khác và khuyên bảo người khác nên thực hành như mình.<br></p>



<p><strong><em>Hòa thượng Thích Trí Tịnh biên soạn<br>(Thập niên 50 &#8211; 60)</em></strong></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/yeu-chi-phap-tri-danh-niem-phat-va-ke-gia-hanh-tu-tri/">Yếu chỉ pháp trì danh niệm Phật và Kệ gia hạnh tu trì</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/yeu-chi-phap-tri-danh-niem-phat-va-ke-gia-hanh-tu-tri/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa chân thật của &#8220;Bổn Nguyện Niệm Phật&#8221;</title>
		<link>https://chuacoam.com/y-nghia-chan-that-cua-bon-nguyen-niem-phat/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/y-nghia-chan-that-cua-bon-nguyen-niem-phat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 02:15:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài viết về Đức Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Pháp môn niệm phật]]></category>
		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=986</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đây đích thật là một vấn đề rất nghiêm túc và quan trọng, nếu giải thích lệch lạc vấn đề này thì có thể dẫn dắt rất nhiều đồng tu lầm đường, lạc lối, đánh mất cơ hội niệm Phật vãng sanh ngay trong đời này của họ, những người rao truyền lời nói này...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/y-nghia-chan-that-cua-bon-nguyen-niem-phat/">Ý nghĩa chân thật của &#8220;Bổn Nguyện Niệm Phật&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Đây đích thật là một vấn đề rất nghiêm túc và quan trọng, nếu giải thích lệch lạc vấn đề này thì có thể dẫn dắt rất nhiều đồng tu lầm đường, lạc lối, đánh mất cơ hội niệm Phật vãng sanh ngay trong đời này của họ, những người rao truyền lời nói này phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả. Trong kinh nói nhất định sẽ đọa địa ngục A Tỳ!<strong>1. Ý nghĩa chân thật của ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’</strong><strong>C</strong>ác bạn đồng học:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chào các bạn, thầy Ngộ Đạo gởi đến câu hỏi của một vị đồng tu ở trường Đại học Lý Công, Nam Kinh như vầy:&#8217;Gần đây có người rao truyền&nbsp;<em>‘Bổn Nguyện Niệm Phật&#8217;</em>&nbsp;chẳng y chiếu những lời dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, chẳng cần tin, chẳng cần phát nguyện, và cũng chẳng cần niệm Phật đều có thể vãng sanh”. Nhiều bạn đồng học chưa hiểu sâu vào [giáo nghĩa] Tịnh Tông nghe xong rất hoang mang’, xin pháp sư từ bi giảng giải.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây đích thật là một vấn đề rất nghiêm túc và quan trọng, nếu giải thích lệch lạc vấn đề này thì có thể dẫn dắt rất nhiều đồng tu lầm đường, lạc lối, đánh mất cơ hội niệm Phật vãng sanh ngay trong đời này của họ, những người rao truyền lời nói này phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả. Trong kinh nói nhất định sẽ đọa địa ngục A Tỳ! Bốn chữ ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’ chẳng sai, nhưng họ giải thích ý nghĩa của nó sai hoàn toàn. Trước khi nhập diệt đức Phật biết rất rõ tình huống trong xã hội hiện tại của chúng ta, rõ ràng vô cùng. Trong chương Thanh Tịnh Minh Hối của kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói:&nbsp;<em>&#8216;Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng&#8217;</em>. Những lời trong kinh này là nói về đời hiện tại của chúng ta &#8212; đời pháp nhược ma cường, chúng sanh nhận giả mà chẳng nhận thiệt, chịu nghe lời gạt mà chẳng chịu nghe lời khuyên!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Các vị đồng học Tịnh Tông chúng ta phải học theo đức Phật, đức Phật có tâm nhẫn nại chờ đợi những người này. Tôi cảm thấy nhiều người trong nhóm đồng học chúng ta có nhiệt tâm hơn đức Phật, họ nôn nóng muốn độ hết thảy chúng sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Nhưng quay đầu lại và thiệt lòng phản tỉnh coi tự mình có thể vãng sanh được hay chăng? Tự mình chẳng có khả năng được độ mà muốn độ người khác! Trong kinh thường nói câu: &#8216;không có chuyện này!’ (vô hữu thị xứ!), mọi người thường nghe câu này, nghe đến thuộc lòng luôn.&nbsp;<em>&#8216;Phật không độ người vô duyên&#8217;</em>, chúng ta phải hiểu những người này chẳng có duyên với Phật, chẳng có duyên nghĩa là không tin. Không tin vào những lời dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, không thể y giáo phụng hành, mà lại nghe những lời rao truyền này, đây tức là chẳng có duyên với Phật, trong đời này họ nhất định chẳng thể thành tựu.</p>



<p><strong>a. Bổn nguyện là gì?</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bổn nguyện rốt cuộc là gì?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bổn nguyện tức là bốn mươi tám lời nguyện. Sau khi Tịnh Tông được thành lập thì chúng ta niệm Phật y theo ‘Bổn Nguyện’. Bạn hãy xem khóa tụng hằng ngày của Tịnh Tông chúng ta, khóa sáng thì niệm bốn mươi tám lời nguyện, khóa tối sám trừ nghiệp chướng. Nếu chẳng sám trừ nghiệp chướng thì nhất định không thể vãng sanh. Tuy pháp môn này nói ‘đới nghiệp vãng sanh’, các vị Tổ sư đại đức xưa nay đã nói đến rất nhiều&nbsp;<em>&#8216;chỉ mang theo nghiệp cũ, chứ không mang theo nghiệp mới’.</em>&nbsp;Những nghiệp mà bạn đang tạo hiện nay thì không thể mang theo, chữ ‘đới’ nghĩa là ‘đem theo, mang qua bên đó’; việc sai lầm trong quá khứ không sao, hôm nay sửa cho đúng lại. Câu<em>‘không kể quá khứ, chỉ luận hành vi hiện nay&#8217;</em>&nbsp;là nguyên lý và nguyên tắc của đới nghiệp vãng sanh. Bây giờ vẫn tiếp tục tạo nghiệp thì chẳng thể vãng sanh, nhất định phải hiểu đạo lý này.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bổn nguyện, có người nói bổn nguyện là nguyện thứ mười tám, nhưng phần đông nhiều người không hiểu rõ nghĩa thú! Nguyện thứ mười tám hàm nhiếp hết thảy bốn mươi bảy nguyện kia một cách rốt ráo viên mãn, thiếu một nguyện trong bốn mươi bảy nguyện kia thì nguyện thứ mười tám sẽ không viên mãn. Vị ‘đại đức’ rao truyền ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’ có hiểu đạo lý này hay không?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bất cứ một nguyện nào trong bốn mươi tám nguyện đều hàm nhiếp bốn mươi bảy nguyện kia một cách rốt ráo viên mãn, nguyện nào cũng như vậy cả. Tuy chúng tôi chưa giảng xong kinh Hoa Nghiêm nhưng mọi người cũng đã nghe kinh chẳng ít. Trong câu<em>‘một tức là nhiều, nhiều tức là một’ (nhất tức thị đa, đa tức thị nhất)&nbsp;</em>của kinh Hoa Nghiêm thì&nbsp;<em>&#8216;một và nhiều là không hai’ (nhất đa bất nhị) mà! ‘Một tức là hết thảy, hết thảy tức là một’ (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất)</em>, người đó có hiểu không? Bổn nguyện niệm Phật là ‘một tức là hết thảy’, cho nên công đức của bổn nguyện rất thù thắng; tuyệt đối chẳng phải nói ‘chỉ dựa vào nguyện thứ mười tám mà thôi, bốn mươi bảy nguyện kia không cần nữa’; nếu bốn mươi bảy nguyện kia đều không thực hiện được thì nguyện thứ mười tám cũng không làm được luôn. Nguyện thứ mười tám là gì? Nguyện thứ mười tám là tổng cương lãnh của bốn mươi bảy nguyện kia. Vì vậy lời rao truyền này là của ma thuyết pháp chứ chẳng phải của Phật.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trước khi nhập diệt đức Phật dạy chúng ta ‘Tứ y pháp’, thứ nhất là ‘Y pháp bất y nhân’. Pháp là gì? [Pháp là kinh điển] Kinh Vô Lượng Thọ là kinh đầu tiên của Tịnh Tông. Đời Đông Tấn, Huệ Viễn đại sư xây dựng đạo tràng niệm Phật đầu tiên ở Lô Sơn – Đông Lâm Niệm Phật Đường, những đồng tu có cùng chung chí hướng và&nbsp;đạo tâm gồm có một trăm hai mươi ba người. Lúc đó kinh điển Tịnh Tông chỉ có kinh Vô Lượng Thọ, các kinh kia chưa được phiên dịch. Những người trong đạo tràng Lô Sơn đều y theo kinh này, một trăm hai mươi ba người này đều vãng sanh một cách vững vàng, thích đáng. Đạo tràng này vô cùng thù thắng, trang nghiêm, chúng ta phải đi theo đường của người xưa, kế thừa [sự nghiệp của] người xưa.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gần đây Ấn Quang lão pháp sư là người cuối đời nhà Thanh đầu thời Dân Quốc, rất nhiều đồng tu đều biết. Ngài là hóa thân của Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Chúng ta chẳng có dịp được gặp lão pháp sư, nhưng Văn Sao của Ngài vẫn còn lưu truyền trong thế gian, [chúng ta] nên đọc tụng kỹ càng, y giáo phụng hành. Ngày nay con đường chúng ta đi là kế thừa Ấn Quang đại sư. Thầy tôi là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, thầy là học trò của Ấn Quang đại sư, cả đời thầy làm theo lời dạy của đại sư. Tôi thân cận học hỏi thầy Lý được mười năm, thầy không dám đảm đương vai trò của thầy giáo, thầy giới thiệu cho tôi một người thầy. Người thầy này là ai? Tức là thầy của thầy Lý, Ấn Quang đại sư. Do đây có thể biết thầy Lý có đức hạnh, học vấn, và vô cùng khiêm tốn! Thầy dạy tôi phải hết lòng phát tâm đọc tụng Văn Sao và y giáo phụng hành, được vậy [mới xứng đáng] làm đệ tử của Ấn Quang đại sư.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi khuyên hết thảy các vị đồng tu ở khắp nơi noi theo kinh Vô Lượng Thọ và làm đệ tử của A Di Đà Phật một cách gọn tắt, ổn đáng. Lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập kinh Vô Lượng Thọ, nếu cụ Hạ không phải là A Di Đà Phật tái lai thì phải là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai, nếu không thì chẳng thể hội tập bộ kinh này được hoàn hảo như vậy. Chúng ta biết ông Vương Long Thư hội tập lần đầu tiên vào triều nhà Tống, ông Ngụy Mặc Thâm hội tập lần thứ hai vào triều nhà Thanh, cả hai đều không hoàn hảo! Thời mạt pháp đích thực có nhu cầu phải hội tập kinh này nên cảm được Phật, Bồ Tát đến thị hiện. Quý vị không tin, nhưng tôi tin; ai tin thì được lợi ích. Chúng ta biết được những người y chiếu lời dạy trong bản kinh này để tu hành và khi vãng sanh có tướng lành trong những năm gần đây rất nhiều, những người chúng ta được nghe nói đến càng nhiều hơn. Nếu các bạn chẳng tin mà cứ nghe theo lời [rao truyền] của người ta thì không còn cách nào để nói nữa?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngày nay trong thời đại dân chủ tự do, rộng mở, ai cũng không có quyền can thiệp người khác, thế thì phải coi duyên phần của chúng ta với đức Phật A Di Đà sâu hay cạn. Chúng ta đọc bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư, không cần hỏi lão cư sĩ là người như thế nào, không cần như vậy. Hãy coi bản hội tập của ngài đúng như pháp hay không? Chúng ta phải xây dựng lòng tin từ điểm này, chẳng phải mê tín, chẳng phải mù quáng. Tôi đã in năm bản dịch của kinh Vô Lượng Thọ và bốn bản hội tập chung thành một cuốn và&nbsp;đề tên sách là ‘Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bổn’; trước sau đã in hết hai, ba vạn quyển. Chư vị đồng tu hãy tự xem và so sánh, để quý vị xây dựng lòng tin vững chắc bằng cách này. Sau đó quý vị hãy quán sát kỹ số người noi theo [lời rao truyền] ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’ mà vãng sanh được bao nhiêu người? Họ có tướng lành gì chăng?</p>



<p><strong>&nbsp;b. Chẳng phát nguyện thì niệm Phật không thể vãng sanh.</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Kinh Vô Lượng Thọ dạy rất rõ ràng, điều kiện căn bản của ba bậc vãng sanh là:&nbsp;<em>&#8216;Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm&#8217;</em>, làm sao có chuyện chẳng phát nguyện mà có thể vãng sanh được? Không có đạo lý này! ‘Chẳng phát nguyện, niệm Phật’ người xưa có nói:&nbsp;<em>&#8216;Cho dù mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng phát nguyện thì hét bể cuống họng cũng uổng công mà thôi!&#8217;</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tại sao vậy? Bạn chẳng chịu vãng sanh mà!</p>



<p><strong>&nbsp;Tâm nguyện vãng sanh, buông xuống vạn duyên tức là tâm Bồ Đề.</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích đã dạy chúng ta:&nbsp;<strong>‘Nếu muốn vãng sanh tăng cao phẩm vị, nhất định phải có tâm giống như tâm Phật, nguyện giống nguyện của Phật, hạnh giống hạnh của Phật’</strong>. Tâm chẳng giống tâm của A Di Đà Phật, nguyện cũng chẳng giống nguyện của A Di Đà Phật, hành vi cũng chẳng giống A Di Đà Phật, cho dù bạn vãng sanh thì phẩm vị cũng rất thấp; huống chi là bạn không thể nào vãng sanh được! Chúng ta phải nhớ kỹ nghe!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phu nhân Vy Đề Hy cầu sanh Tịnh Độ, thỉnh giáo đức Phật Thích Ca:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Con phải tu học như thế nào mới có thể vãng sanh Cực Lạc thế giới?’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trước khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải phương pháp tu học cho bà, Ngài đã giảng rõ ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’, giảng rõ cho chúng ta đây là&nbsp;<em>&#8216;Chánh nhân Tịnh nghiệp của ba đời chư Phật&#8217;</em>. Nói một cách khác bất luận Phật quá khứ, Phật hiện tại, hay Phật tương lai, hết thảy những người tu hành thành Phật đều xây dựng trên cơ sở, nền tảng này, nếu không có cơ sở này thì chẳng kể họ ráng sức tu hành ra sao đều không thể thành tựu. Cũng như việc xây nhà, đây là nền móng. Hai câu đầu trong cơ sở này là: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng’, người Trung Quốc thường dùng danh từ: ‘hiếu thân tôn sư’. Mọi người ở Tây phương Cực Lạc thế giới đều là người con có hiếu nhất, đều là học sinh giỏi nhất. Trong kinh Vô Lượng Thọ xưng họ là ‘đệ tử hạng nhất của Như Lai’! Làm sao có chuyện ‘chẳng phát nguyện’ này? Việc này hoàn toàn sai lầm! Những người có đầu óc sáng suốt một chút đều có thể phân biệt và nhận ra. Nếu ngay cả việc này cũng không thể nhận ra sự khác biệt, sự học Phật của chúng ta đều là vô ích, nghe giảng kinh bao nhiêu năm nay cũng luống uổng, vô ích! ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’ tức là hạnh của Phật – Hành vi của chư Phật Như Lai được thể hiện trong sanh hoạt thường ngày. Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện đều là sự hành trì của chư Phật. Chúng ta đã làm được chưa? Tôi thường khuyên các vị đồng tu khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác phải đối chiếu với năm khoa mục này, nếu tương ứng, phù hợp thì hạnh của quý vị là chánh hạnh; nếu không tương ứng thì hạnh của quý vị là tà hạnh, tà hạnh chẳng thể vãng sanh được đâu!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cho nên chúng tôi biên soạn năm đề mục của Tịnh Tông thành cuốn sách nhỏ gọi là ‘Nguyên tắc tu hành’, đây là nguyên tắc chúng ta nhất định phải tuân theo trong đời sống, công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật hằng ngày, nhất định chẳng thể làm trái ngược. Nếu làm trái ngược thì niệm Phật, phát nguyện cũng không thể vãng sanh. Tại sao vậy? Nguyện này của bạn là nguyện giả, nguyện suông, không thực tế. Khi chúng ta phát nguyện hồi hướng, bạn lấy gì để hồi hướng? Nói suông, hồi hướng suông thì không được, bạn phải dùng những gì thực tế để hồi hướng. Thực tế là gì?&nbsp;<strong>Thực tế là tu hành chứng quả, đoạn ác tu thiện, chuyển mê thành ngộ.</strong>&nbsp;Đây là công đức tu hành chân thật của mình, mình phải dùng cái này để hồi hướng. Hôm nay bạn không phát nguyện và cũng không niệm Phật, làm sao bạn có thể vãng sanh cho được?</p>



<p><strong>c. Đời mạt pháp, tà sư nhiều như cát sông Hằng.</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Đồng tu Tịnh Tông nghe xong khởi lên rất nhiều nghi vấn’, những người này vô tri, ngu muội, là những người đáng thương! Giống như mấy năm trước đây ông Trần Kiến Dân ở Mỹ đã tuyên bố khắp thế giới rằng: ‘đới nghiệp không thể vãng sanh’, làm những người niệm Phật khắp thế giới vô cùng phân vân, thắc mắc. Đó là ma, không phải là Phật đâu! Ngay cả những vị như lão cư sĩ Châu Tuyên Đức cũng lung lay lòng tin. Khi tôi đến Los Angeles ông ra phi trường đón tôi, vừa gặp mặt liền hỏi: ‘Pháp sư, hiện nay có người nói: ‘đới nghiệp không thể vãng sanh’, phải ‘tiêu nghiệp mới có thể vãng sanh’, vậy thì phải làm sao?’.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi bèn nói với ông: ‘Không vãng sanh thì thôi!’.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông nghe xong lời này vô cùng hoang mang; tôi nhìn ông đờ cả người, đứng đó nói chẳng nên lời. Tôi nói:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Nếu không đới nghiệp, thì Tây phương Cực Lạc thế giới chỉ có đức Phật A Di Đà cô độc một mình trên đó, ông còn lên đó làm gì?’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông vẫn còn chưa hiểu, tôi mới nói thêm:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đều là Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn còn một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa phá trừ, như vậy có phải là&nbsp;đới nghiệp hay không?’.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nghe xong ông mới tỉnh ngộ &#8212; Quán Âm, Thế Chí đều đới nghiệp, chỉ có một mình A Di Đà Phật là chẳng đới nghiệp mà thôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Nhưng trong kinh chẳng có nói ‘đới nghiệp vãng sanh’?’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi trả lời: ‘Trong kinh có nói đến bốn cõi, ba bậc, chín phẩm hay không?’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Có!’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Nếu không đới nghiệp thì mọi người đều bình đẳng, vậy thì đâu có ba bậc, chín phẩm phải không?’</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây là lời đức Phật dạy chúng ta:&nbsp;<em>&#8216;Noi theo nghĩa chứ không noi theo lời nói&#8217;</em>, tuy đức Phật chẳng có nói ‘đới nghiệp vãng sanh’, [nhưng] có nói đến ba bậc, bốn cõi, chín phẩm, vậy thì ý tứ của chữ đới nghiệp đều nằm trọn trong đó rồi. Bạn đem theo nghiệp nhiều thì phẩm vị của bạn thấp; bạn đem theo nghiệp ít thì phẩm vị của bạn sẽ cao. Đâu có đạo lý chẳng đới nghiệp!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Người học Phật phải khai mở trí huệ, tại sao có thể vừa nghe người ta nói hai ba câu thì lung lay lòng tin liền, mê hoặc điên đảo như vậy? Bạn nói người như vậy có đáng thương hay không? Niệm Phật suốt cả đời, bảy tám chục tuổi rồi, vừa nghe lời đồn đãi của người ta thì lung lay niềm tin, thiệt là&nbsp;đáng thương quá! Vì vậy nên đức Phật dạy chúng ta:&nbsp;<em>&#8216;Y pháp chứ đừng y theo người’, ‘Y nghĩa chứ không y theo lời nói&#8217;</em>, pháp là kinh điển; kinh điển của Tịnh Tông là năm kinh, một luận, phải hiểu lời dạy của Ngài.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ‘Bổn nguyện niệm Phật’ có sai không?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Không sai!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vậy thì ‘bổn nguyện’ là gì?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Năm kinh, một luận là bổn nguyện, bốn mươi tám nguyện là bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, rút một câu trong đó ra thì không được! Rút ra bất cứ một câu nào trong đó, nếu bạn hiểu được ‘một tức là nhiều’, một câu tức là toàn bộ năm kinh và một luận, nếu bạn có công phu đến mức này thì có thể hiểu như vậy, có thể như vậy. Nếu không có công phu đến mức này thì hãy ngoan ngoãn, thực thà theo thứ tự mà bước đi từ từ, học tập theo thứ lớp đàng hoàng, được vậy bạn sẽ thành công. Hễ không đúng như pháp, giải sai, lệch lạc ý nghĩa của bổn nguyện niệm Phật thì đều là ma hết; ma sợ bạn thành tựu ngay trong một đời này nên mau mau kéo bạn trở lại, đẩy bạn vô địa ngục A Tỳ xong thì ma mới vui! Được rồi, tôi giải thích vấn đề này cho các bạn đến đây thôi.</p>



<p><em>Ngày 5 tháng 1, 2000 tại Báo Ân Đường Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba.</em><strong><em>Hòa Thượng Tịnh Không thuyết giảng<br>Liễu Nhân sưu tập và ghi chép, Cư sĩ Truyền Tịnh giảo chánh<br>Dịch theo bản in của Tịnh Tông Học Hội Los Angeles, tháng 3, 2001</em></strong></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/y-nghia-chan-that-cua-bon-nguyen-niem-phat/">Ý nghĩa chân thật của &#8220;Bổn Nguyện Niệm Phật&#8221;</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/y-nghia-chan-that-cua-bon-nguyen-niem-phat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
