<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Sách dịch Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<atom:link href="https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/sach-dich/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/sach-dich/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Tue, 24 Mar 2020 06:35:58 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.1</generator>

<image>
	<url>https://chuacoam.com/wp-content/uploads/2020/04/cropped-logo-chuacoam-32x32.png</url>
	<title>Sách dịch Archives - Chùa Cổ Am</title>
	<link>https://chuacoam.com/chuyen-muc/thu-vien-phat-giao/thu-vien-kinh-sach/sach-dich/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phật học và y học Tác giả: Thích Tâm An</title>
		<link>https://chuacoam.com/phat-hoc-va-y-hoc-tac-gia-thich-tam-an/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/phat-hoc-va-y-hoc-tac-gia-thich-tam-an/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 06:33:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sách dịch]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1124</guid>

					<description><![CDATA[<p>Lời người dịch&#160;&#160;&#160; Phật học và Y học là một trong những loạt bài nói chuyện cùng các giáo sư và bác sĩ của bác sĩ Quách Huệ Trân tại Học Viện Y Dược Trung Quốc, được cư sĩ Lý Nghi Linh ghi lại thành sách. Là một bác sĩ chuyên khoa ung thư, bà...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phat-hoc-va-y-hoc-tac-gia-thich-tam-an/">Phật học và y học Tác giả: Thích Tâm An</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Lời người dịch&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phật học và Y học là một trong những loạt bài nói chuyện cùng các giáo sư và bác sĩ của bác sĩ Quách Huệ Trân tại Học Viện Y Dược Trung Quốc, được cư sĩ Lý Nghi Linh ghi lại thành sách. Là một bác sĩ chuyên khoa ung thư, bà rất tận tâm và hết mình trong công việc. Do ngày hàng công tác trong bệnh viện, được tận mắt chứng kiến nỗi đau khổ của bệnh nhân, cũng như chứng kiến được nỗi thống khổ của cảnh sinh ly tử biệt kiếp người mà ai phải gánh chịu. Bình thường lại là người có tu học Phật pháp, nên khi tiếp xúc được với cảnh khổ đau thực tế của bệnh nhân, bà mới thật sự tin sâu nhân quả và cảm nhận sâu sắc lời Phật dạy là một sự thật, không có bi quan và yếm thế, như người đời thường nghĩ.<br>&nbsp;&nbsp; &nbsp;Nhận thấy tập sách rất có giá trị thức tỉnh người giác ngộ khổ đau của thế gian mà chuyên tâm niệm Phật. Với chút hiểu biết kém cỏi về Hoa văn, chúng con đã cố gắng phiên dịch bản văn của cuốn sách nói trên sang Tiếng việt, với mong ước làm sao được đốt lên một ngọn đèn dầu le lói giữa trời khuya, giúp cho đời một chút tỉnh giác mà sớm hồi tu tập.<br>&nbsp;&nbsp; Trong quá trình chuyển dịch không sao tránh được những thiếu sót và sai lầm, kính mong các bậc tôn túc chỉ dạy những điều sai lầm và thiếu sót trong cho bản dịch của chúng con, để lần tái bản tới sẽ được hoàn hảo hơn.<br></p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/phat-hoc-va-y-hoc-tac-gia-thich-tam-an/">Phật học và y học Tác giả: Thích Tâm An</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/phat-hoc-va-y-hoc-tac-gia-thich-tam-an/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thương yêu sự sống Tác giả: Thích Tâm An</title>
		<link>https://chuacoam.com/thuong-yeu-su-song-tac-gia-thich-tam-an/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/thuong-yeu-su-song-tac-gia-thich-tam-an/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 06:29:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sách dịch]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1121</guid>

					<description><![CDATA[<p>NAI MẸ THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT Ban mai, rừng núi hoang vu chìm trong êm ả, vầng hồng chiếu sáng khắp muôn nơi, từng dãy núi rực rỡ trong ánh hồng, một dòng suối nhỏ nước rì rào tuôn chảy, cảnh vật tràn ngập sức sống vui tươi. Bất chợt xuất hiện một bóng người...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/thuong-yeu-su-song-tac-gia-thich-tam-an/">Thương yêu sự sống Tác giả: Thích Tâm An</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>NAI MẸ THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT</strong></p>



<p>Ban mai, rừng núi hoang vu chìm trong êm ả, vầng hồng chiếu sáng khắp muôn nơi, từng dãy núi rực rỡ trong ánh hồng, một dòng suối nhỏ nước rì rào tuôn chảy, cảnh vật tràn ngập sức sống vui tươi.</p>



<p>Bất chợt xuất hiện một bóng người phi nhẹ qua dòng suối nhỏ rồi dừng lại trên một bãi cỏ một hồi lâu. Người này quan sát một vòng cảnh tượng hoang vu xung quanh trong lặng lẽ, hình như đang tìm kiếm một cái gì đó. Bóng dáng người này thấp thoáng qua hình ảnh vành tai lớn, mày kiếm mắt hùm, đầu quấn khăn anh hùng, tay trái cầm cành cung, bên hông phải đeo lủng lẳng một túi đựng mũi tên. Nét mặt hồng hào, tinh thần quắc thước, khí khái hiên ngang, bệ vệ. Chàng ta là Hứa Chân Quân, một người rất mực yêu thích phong cảnh tự nhiên, nhất là đối với việc săn bắn. Đứng đợi một hồi lâu, chàng ta bất chợt nhìn thấy một chú nai con từ trong rừng vắng nhảy ra.</p>



<p>Hứa Chân Quân trong lòng rất vui sướng, bèn lắp tên giương cung, một mũi tên bay vèo, nai con bị trúng tên. Chàng vô cùng vui mừng, đúng vào lúc dự định lại gần chú nai con thì bất chợt chàng thấy nai mẹ từ trong một bụi cây lao ra. Nai mẹ vội vàng đến bên nai con đang bị thương kêu lên những tiếng ai oán đau thương rồi bất chợt rơi lệ. Nai mẹ dùng lưỡi liếm lên vết thương nai con bị trúng tên. Một hồi sau nai con nằm bất động. Nai mẹ vô cùng đau đớn, buồn rầu xót thương con ngã lăn ra đất chết. Hứa Chân Quân cảm thấy rất kỳ lạ, chàng vội vàng rút dao mổ bụng nai mẹ ra xem sao, thì hỡi ơi, ruột của nai mẹ bị đứt ra từng đoạn một.Tận mắt chứng kiến cảnh đó, Hứa Chân Quân vô cùng cảm động và hối hận về hành vi tội lỗi của chính mình. Chàng vội bẻ gãy cung tên rồi vứt xuống suối. Sau đó, chàng từ giã gia đình lên núi tìm thầy học đạo, trải qua hơn mười năm tu hành thì được giác ngộ.&nbsp;

</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/thuong-yeu-su-song-tac-gia-thich-tam-an/">Thương yêu sự sống Tác giả: Thích Tâm An</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/thuong-yeu-su-song-tac-gia-thich-tam-an/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Con đường Tây Phương Tác giả: Tịnh Sĩ</title>
		<link>https://chuacoam.com/con-duong-tay-phuong-tac-gia-tinh-si/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/con-duong-tay-phuong-tac-gia-tinh-si/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 06:21:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sách dịch]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1113</guid>

					<description><![CDATA[<p>Hóa thành không phải là Bảo sở, nhưng muốn đi đến Bảo sở không thể không đi đến Hóa thành.&#160;&#160; Giới, Định, Tuệ chưa phải là cứu cánh Niết bàn. Song muốn chứng cứu cánh Niết bàn không thể không thành tựu Giới, Định, Tuệ. Hay nói cách khác, muốn đắc thành Phật đạo không...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/con-duong-tay-phuong-tac-gia-tinh-si/">Con đường Tây Phương Tác giả: Tịnh Sĩ</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>

Hóa thành không phải là Bảo sở, nhưng muốn đi đến Bảo sở không thể không đi đến Hóa thành.<br>&nbsp;&nbsp; Giới, Định, Tuệ chưa phải là cứu cánh Niết bàn. Song muốn chứng cứu cánh Niết bàn không thể không thành tựu Giới, Định, Tuệ. Hay nói cách khác, muốn đắc thành Phật đạo không thể không đi vào cảnh giới thanh tịnh.<br>&nbsp;&nbsp; Đó chính là lý do ngài Nhứt Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ tát vì cầu thành Phật lại phải kinh hành và thiêu mình cúng dường đức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai cả mười mấy ngàn năm để được sinh vào gia đình vua Tịnh Đức.<br>&nbsp;&nbsp; Và cũng lẽ ấy nên đức Thế Tôn không ai hỏi mà tự nói pháp môn niệm Phật, khuyên chúng sinh nguyện về Tây phương Tịnh độ để chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.<br>&nbsp;&nbsp; Như vậy, sinh về Tây phương Tịnh độ là điều cần yếu cho tất cả những ai muốn giải thoát thành tựu Phật đạo.<br>Tuy nhiên, làm sao sinh vềø Tịnh độ? Hành giả phải trải qua một ngã đường như thế nào để đến được Tây phương?<br>&nbsp;&nbsp; Không ngại sự thấy biết nông cạn, bút giả xin bàn bạc cùng chư huynh đệ con đường về Tây phương an lành ấy.<br><strong><em>Tịnh Sĩ<br></em></strong>********&nbsp;Con đường Tây Phương&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tất cả các pháp đều do tâm biến hiện ra. Ta bà hay Phật cảnh đều do tâm mà thành, chúng sinh hay Phật đều từ tâm mà có… Tâm vốn không, chư Phật và chúng sinh cũng không. Tâm là huyễn, Phật và chúng sinh cũng huyễn. Một là huyễn thì tất cả đều huyễn, một là không thì tất cả đều không. Không mà huyễn, huyễn mà không, ấy là tướng thật của vạn pháp.<br>Ta bà hay Tịnh độ đều chẳng ngoài tâm. Cả hai đều là không, cả hai đều là huyễn, là huyễn mà không, là không mà huyễn. Tất cả đều đồng nhất là giả tướng của huyễn. Tất cả đều vô biệt ở đường thể không. Thế nên Ta bà không thì Tịnh độ cũng không, Ta bà huyễn thì Tịnh độ cũng huyễn; nghĩa là xét thể tánh thì tất cả đều không, nhìn ở giả tướng thì mọi thứ đều huyễn hữu, và khởi huyễn hữu tâm thì huyễn hữu sinh huyễn hữu Ta bà hay Tịnh độ.<br>&nbsp;&nbsp; Từ vô thỉ đến nay, chúng sinh luôn luôn khởi tâm và bởi tâm đó mà có ra các cảnh giới. Tâm địa ngục thành cõi địa ngục, tâm con người xây dựng thế giới loài người, tâm Phật kiến tạo cõi Phật.<br>&nbsp;&nbsp; Nếu thấy được con người là không thì thấy chư Phật cũng không. Còn đã bảo loài người hiện có thì phải nhận cõi Phật cũng có, tức là có thế giới con người thì có cảnh giới Phật, có Phật A Di Đà, có Tịnh độ Tây phương.<br>Có con người, có chư Phật, có cõi người, có cõi Phật, có trầm luân, có giải thoát, có vãng sinh, có thành Phật…<br>&nbsp;&nbsp; Là chúng sinh giác ngộ muốn trở về với sự sáng suốt chân thật, thành tựu Bồ đề à, chứng Chánh Đẳng Giác, chúng ta không thể không đi theo con đường của chư Phật, rèn luyện tâm hồn bằng sự thực hành tu tập.<br>&nbsp;&nbsp; Trong các đường lối pháp môn tu thành Phật, pháp môn niệm Phật là con đường thẳng tắt nhất, và trong các phương pháp niệm Phật giải thoát, phương pháp trì niệm hồng danh A Di Đà Phật cầu sinh Tây phương Cực lạc là dễ dàng nhất. Với pháp môn này, hành giả chỉ cần có niềm tin vững chắc, thành thật nguyện sinh Tây phương và thường xuyên trì niệm hồng danh đức Phật A Di Đà, thực hành chuyên cần và thuần thục, hành giả sẽ vãng sinh về thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà khi mãn báo thân người. An trú trong cảnh giới thuần tịnh giải thoát này, mỗi vị đã được sinh về sẽ khai phát sự giác ngộ, chứng bất thối chuyển và cuối cùng thành Phật. Tùy trình độ tâm linh của mỗi vị, sự khai&nbsp; phát ấy có nhanh chậm khác nhau.<br>&nbsp;&nbsp; Đó là đường lối của pháp môn thẳng tắt dễ dàng niệm hồng danh A Di Đà Phật. Tuy nhiên, trên phương diện thực hành, hành giả cần phải biết rõ cách thức ứng dụng tu tập, có vậy sự dụng công phu tu tập mới thu được kết quả tốt đẹp, bằng chẳng thấu suốt cách dụng công thì sự thực hành phải gặp nhiều chướng ngại, tốn nhiều công sức và kết quả không như ý nguyện.<br>&nbsp;&nbsp; Tây phương Cực lạc là cảnh giới thanh tịnh giải thoát. Thanh tịnh là vô nhiễm là thuần thiện, giải thoát là vượt ngoài ba cõi, vượt ngoài ba cõi là xả ly thế gian. Như vậy, muốn về Tây phương Cực lạc, hành giả cần phải có tâm thanh tịnh giải thoát, thuần thiện ly thế gian.<br>Tâm thanh tịnh hay tâm thuần thiện trong sạch là tâm dứt bặt mọi phiền não ác nghiệp nhiễm ô. Tâm giải thoát hay tâm ly thế gian là tâm không còn vương mang ái dục phàm phu thế tục.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tóm lại, muốn chắc chắn vào được cảnh giới Tây phương Tịnh độ, hành giả phải rèn luyện thành thục tâm mình đến chỗ thánh thiện không còn ái dục nhiễm ô.<br>Để được như thế về thực hành, hành giả cần tu tập theo trình tự ba giai đoạn:<br><em>1. Giai đoạn trau dồi thiện tâm<br>&nbsp;&nbsp; 2. Giai đoạn rèn tâm giải thoát<br>&nbsp;&nbsp; 3. Giai đoạn chuyên tu niệm Phật, thành tựu niệm Phật tam muội.<br></em><strong>&nbsp;&nbsp; I. Giai đoạn trau dồi thiện tâm</strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Giai đoạn này cũng là giai đoạn gột rửa tâm hồn, vì ở giai đoạn này, hành giả dùng mọi phương tiện để giải trừ tất cả tập khí xấu ác của bao đời trước (kiếp trước) giúp tâm trở nên trong sạch hiền thiện, bảo đảm không sa vào ác đạo.<br>&nbsp;&nbsp; Cũng gọi là giai đoạn nuôi dưỡng đức hạnh. Hành giả song song với việc xả ác, luôn luôn rèn luyện, dưỡng nuôi tất cả các phẩm hạnh thanh cao, các đức tính quý báu để chuẩn bị cho việc tu tập giải thoát, đảm bảo đường tu không bị chướng ngại.<br>&nbsp;&nbsp; Đây là giai đoạn rất quan trọng, là căn bản của mọi sự tu hành giống như nền móng của căn nhà, nếu không trải qua một sự tu tập thuần thục vững chắc ở giai đoạn này, thì mọi sự tu tập giải thoát nào khác đều bị thất bại.<br>Không gột rửa tâm trở nên hiền thiện, cứ để mầm ác ẩn tàng trong tâm thức thì khó tránh khỏi lạc vào tà đạo. Một khi đủ duyên, ý ác sinh khởi, nó sẽ biến mọi Phật sự thành ma sự, phá hoại tất cả các công đức lành.<br>&nbsp;&nbsp; Nếu không rèn luyện đức hạnh, cứ để các thói quen xấu như dễ xao động, dễ thối lui, thiếu nhẫn nhục, thiếu khiêm tốn, hòa hợp… thì khó tránh sự gẫy đổ và các chướng ngại trên đường tu tập khiến không thành tựu kết quả.<br>&nbsp;&nbsp; Bởi chúng ta từ vô thỉ đến nay đã huân tập vô số chủng tử bất thiện, chúng luôn luôn ẩn tàng trong tâm, mỗi khi đủ duyên, chúng sẽ khởi dậïy, giống như các hạt giống cỏ dại trong nền đất lặng lẽ, khi đủ điều kiện nước, ánh sáng… liền tự mọc mầm.<br>&nbsp;&nbsp; Những chủng tử bất thiện như tham lam, ích kỷ, gian xảo, sân hận, thù hiềm, ganh ghét, đố kỵ, phá hoại, đam mê, điên đảo, ngã mạn, khinh người, không nhận lỗi, chê thiện, vui ác… chúng là nguyên nhân gây ra các tội lỗi, lôi kéo chúng sinh vào ba đường ác, chúng liên kết với nhau khiến hành giả bỏ mất đạo tâm.<br>&nbsp;&nbsp; Như tu hành còn tham danh tất thườøng khoe khoang, gặp người hơn mình thì ghen tỵ, dèm chê, tìm cách hại danh dự người… tâm hồn cứ loanh quanh vấn đề danh dự. Mọi việc làm đều do tâm cầu danh sai sử, trở thành bè đảng của ma, dù có làm việc thiện cũng là ma sự. Khi bị trái ý tổn hại đến danh dự mình thì trở nên sân hận, hiềm thù. Điều ác còn chưa đoạn được&nbsp; thì mong gì thành tựu giải thoát.<br>&nbsp;&nbsp; Hoặc tu đạo mà ôm lòng ngã mạn, tự cao tự đại, xét lỗi người, đối trên bất kính, nhìn xuống khinh thường, chẳng học hỏi người, chẳng sửa lỗi mình. Như vậy tâm hồn chỉ chứa đựng đầy thứ xấu xa tội lỗi, khó vươn tới chỗ thanh cao đạo đức. Há có thể giải thoát sinh tử?<br>&nbsp;&nbsp; Bên cạnh những chủng tử bất thiện ấy, con người chúng ta còn có rất nhiều thói quen không tốt như thiếu bền chí, thiếu cam nhẫn, không tri túc, lười biếng, ỷ lại, đa ngôn, hấp tấp, không tự tin, không chú tâm, không chuyên nhất, hí luận, trạo cử, cố chấp, hơn thua, sợ hãi… Trong đời sống tu hành không ai tránh khỏi những khó khăn do nghiệp chướng hoặc ngoại cảnh đưa đến, đồng thời công phu giải thoát cũng đòi hỏi hành giả phải có một nhân cách hoàn hảo. Nếâu còn những thói quen không tốt thì trên đường tu tập, hành giả khó vượt qua chướng duyên, khó đạt đến chỗ giải thoát trọn vẹn. Do đó, bước vào con đường giải thoát, muốn có sự vững chắc và nhẹ tiến, trước tiên hành giả phải thanh lọc tâm mình, rèn trau đức hạnh. Đây chính là chỗ nói: “Muốn tu tiên đạo, trước tu nhân đạo”, hoặc “Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ” ấy vậy.<br>&nbsp;&nbsp; Tu dưỡng thiện tâm, hành giả phải thông suốt nhân quả nghiệp báo, biết rõ ràng tất cả đều do duyên sinh, phân biệt thế nào là thiện ác ngay trong mỗi điều giới luật nhỏ nhặt và phải thấy tầm&nbsp; quan trọng của nó.<br>Hành giả phải thường xuyên tìm xét lỗi mình, ở mỗi hành động, lời nói và ý nghĩ do mình khởi ra, đều phải thành thật nhận biết tính chất thiện ác, hay dở, lợi hại, đúng sai của nó. Thấy ác, sai dở thì lập tức xả bỏ; thấy thiện, đúng hay thì cố gắng hành thêm. Bởi có thấy được lỗi của mình thì mới lo tu sửa, càng thấy mình nhiều lỗi lầm khuyết điểm, tâm càng thêm hổ thẹn, càng tinh tấn rèn luyện học hỏi tu tập. Hành giả chỉ nên chú ý lỗi mình, không nên tìm xét lỗi người, không nghĩ xấu về người…Vì xét lỗi người, nghĩ xấu về người sẽ làm tâm hành giả chất chứa thêm nhiều điều bất thiện. Trong mọi việc sai trái, phải thấy có lỗi mình trong đó.<br>&nbsp;&nbsp; Song song với việc xét lỗi mình, hành giả phải chú ý điều hay của người, tìm học các gương sáng, các đức tính quý giá của những bậc tiền bối, của chư Thánh hiền, và của tất cả chư Phật. Luôn luôn chiêm nghiệm tưởng nhớ công đức, đạo hạnh của các Ngài, để các đức tính quý báu ấy thâm nhập mạnh mẽ trong tâm thức, làm tiêu hoại những chủng tử nhiễm ô đã huân tập từ vô thỉ.<br>&nbsp;&nbsp; Do đó, ở giai đoạn này, hành giả có thể tậïp tu: đọc kinh, sám hối, lễ Phật, niệm Phật, suy tư, đọc sách, làm phước thiện…<br>&nbsp;&nbsp; Đối với tất cả các việc thiện, hành giả phải sốt sắng vui vẻ thực hành, tùy theo khả năng mà làm, không nên vì lười biếng mà bỏ qua. Dù là việc nhỏ nhặt cũng không được coi thường, sẵn sàng xả thân cho các việc thiện ấy. Tâm say mê với việc lợi mình lợi người, có như thế những chủng tử xấu ác mới không còn dịp sinh khởi. Hành giả phải làm với tâm niệm trưởng dưỡng thiện căn và lợi ích chúng sinh, không nên làm vì lợi ích cá nhân, thỏa mãn tính hiếu thắng cầu danh dự và tình cảm. Được như vậy, việc hành thiện mới không bị chướng ngại khi gặp khó khăn, mới không phát sinh phiền não khi gặp điều trái ý và không trở thành ma sự khi mình được lợi. Tùy theo nghiệp chướng của người và của mình mà làm thiện cho phù hợp, nhằm đoạn trừ ác nghiệp. Tham xẻn thì thường bố thí buông xả, khuyên người thí xả, tưởng niệm nhân quả phước điền vị tha; nghiệp sân độc thì nói lời lành, gần người hiền đức, tập nhu hòa, tưởng niệm từ bi, nhẫn nhục; nghiệp si mê tà kiến thì lo đọc kinh, nghe pháp, khuyên người học chánh pháp, bố thí kinh điển, cung kính bậc trí tuệ…<br>&nbsp;&nbsp; Tóm lại, làm thiện theo nhân duyên như tùy bệnh cho thuốc, bệnh gì thuốc nấy sao cho người mình trở nên thiện lành.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mỗi một cảnh duyên thuận nghịch nào đưa đến, hành giả cần nên nghĩ tưởng “đó là do nghiệp quả của mình chiêu cảm và theo nghiệp mà thay đổi”. Hành giả không trốn tránh, không say đắm, bình thản đón nhận. Thường hay quán sát nhân quả của mình trong mọi hình thức sinh hoạt hằng ngày, hành giả sẽ giữ được sự an bình, tự chủ và sáng suốt khi đối diện với gió đời vui buồn, vinh nhục… Giai đoạn này, hành giả không được để tâm ngừng nghỉ mà phải thường xuyên vận dụng nó, nhờ nó quán xét suy tư sự thật của cuộc đời theo ánh sáng chân lý, khiến tâm thức thấm nhuần đạo pháp.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;Điều nên chú ý là khi thấy mình có nhiều lỗi lầm khó sửa đổi cũng không được bi quan buồn chán. Hãy nghĩ rằng: “Chúng sinh ai cũng có lỗi, nghiệp chướng nào cũng khó trừ, chỉ cần cố gắng, tất cả đều có ngày cùng tận, tánh xấu có lúc phải hết”.<br>&nbsp;&nbsp; Ngay thấy mình có các lỗi lầm, hành giả phải suy xét nguyên do sinh ra lỗi ấy, sự lợi hại của nó và xả bỏ nó. Biết rõ các lỗi lầm như thế, hành giả sẽ dễ dàng dứt khoát đoạn trừ, đoạn trừ ngay tận gốc của nó. Hành giả không nên sợ hãi đối mặt với tính xấu của mình, dù nó đê tiện cũng nhắm ngay nó mà quan sát phân tích cho thấu đáo, sau đó mới dứt khoát quên đi để rèn luyện đức tính, ngược lại nó. Vì khi thấu triệt rồi, không cần nghĩ đến nó nữa, cứ tưởng niệm pháp thiện thường xuyên thì các nghiệp ác ấy sẽ dần dần tiêu mất.<br>&nbsp;&nbsp; Ví dụ thấy mình còn sân hận, biết rõ là mình chấp ngã, tham danh, cố chấp sự tướng… Thấy sự lợi hại của việc sân hận là thỏa mãn bản ngã, phá tiêu thiện tâm công đức, khổ mình, khổ người, chiêu cảm ác báo… Nhận biết nếu đoạn dứt được sân hận thì tâm hồn luôn an lạc, thiện tâm tăng trưởng, thiện nghiệp phước thiện tăng mãn, đưa đến giải thoát sinh tử… Quan sát thường xuyên như thế, nghiệp sân sẽ bị mất gốc, hành giả trở nên an tâm, không còn theo đuổi niệm sân hận. Bấy giờ hành giả cứ chuyên tâm niệm tưởng đức từ bi của chư Phật, Thánh hiền, hoặc nguyện cầu chúng sinh đều sống từ bi. Không nhớ nghĩ đến sự sân hận của mình nữa, nhưng mỗi khi vừa muốn sân thì phải trực nhận liền, rồi phát tâm từ bi thông cảm khiến nó tiêu tan. Đối trị nghiệp tham đắm, ích kỷ, ngã mạn, cố chấp… cũng phải quan sát và khéo léo tu tập như thế. Được như vậy mới gọi là lấy gươm trí tuệ đoạn trừ nghiệp chướng hay biến phiền não thành Bồ đề vậy.<br>Rèn luyện tánh hạnh tốt, hành giả phải thực hiện ngay nơi mọi việc mình làm hằng ngày, dù là việc nhỏ nhặt cũng phải làm trong ý thức tu tập.<br>&nbsp;Như rèn tâm “bền chí” thì ngay nơi các việc làm, dù đơn giản hay khó khăn, lớn hay nhỏ phải thực hành chu đáo tới nơi tới chốn. Ví dụ: Xách nước vào lu, xách đến khi đầy lu mới thôi; quét sân thì quét giáp sân mới nghỉ mà không bỏ dở nửa chừng. Việc khó khăn lớn nhỏ đều bền chí tới cùng như vậy. Ngay nơi việc nhỏ nhặt tập luyện được, lâu ngày sẽ thành thói quen. Về sau này gặp việc khó khăn quan trọng mới có thể kiên tâm đến đích.<br>Xả trừ thói quen hấp tấp loạn động, rèn hạnh từ tốn thung dung cũng ngay nơi sinh hoạt hằng ngày, không gián đoạn ở thời khắc nào. Đi đứng nằm ngồi, nói năng làm việc, nhất nhất đều thong thả cẩn thận.<br>&nbsp;&nbsp; Rèn luyện nhẫn nhục, tinh tấn, hỷ xả, hòa hợp, tự chủ, chuyên tâm… cũng thế.<br>&nbsp;&nbsp; Tóm lại, hành giả phải coi tất cả các hoạt động thường ngày là môi trường rèn trau đức hạnh của mình. Mọi lời nói cử chỉ đều cần phải chú tâm luyện tập cho được tốt đẹp, ý nghĩa là tu trong lọi lúc mọi nơi.<br>&nbsp;&nbsp; Hành giả cũng thường nên khởi các lời nguyện cầu để trưởng dưỡng thiện tâm đến chỗ hoàn mỹ. Như nguyện tất cả chúng sinh đều được an lành, nguyện tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh, nguyện tất cả chúng sinh đều sống hỷ xả từ bi, nguyện tất cả chúng sinh đều được giải thoát… hoặc khởi các lời nguyện như các vị Bồ tát trong kinh Hoa Nghiêm thường phát nguyện như thế. Những chủng tử lành thấm sâu nơi tâm thức hành giả sẽ tôi luyện tâm hồn thuần tịnh cao thượng, tràn đầy từ bi, dứt bặt ác nghiệp, giống như ly tách có mùi hôi, nay đựng đầy một thứ rấât thơm tho ngon ngọt, ly tách liền trở nên thơm tốt vậy.<br>&nbsp;&nbsp; Giai đoạn này chú trọng việc tu thiện, chỉ lo bồi dưỡng thiện tâm, không quan tâm đến sự phan duyên động niệm hay đoạn tuyệt ái dục, do đó, hành giả còn nhiều ý niệm ái dục và thiếu định tâm. Tuy vậy, hành giả không nên lo sợ, cứ phát khởi tâm lành cho đến khi tâm tràn đầy từ bi, không còn ác nghiệp phiền não và thành tựu các đức hạnh cần yếu cho việc tu tập giải thoát, có điều là tránh các duyên làm tâm ái dục thêm mạnh, hoặc các duyên làm tâm khó định tỉnh để giữ gìn đạo tâm mà thôi.<br>&nbsp;&nbsp; Khi nào hành giả nhận thấy tâm mình đã đạt được sự hài hòa, đối với các cảnh thuận nghịch đều giữ được sự trong sạch không phiền não ác niệm và các đức tánh khiêm tốn, bền chí, nhẫn nhục, giản dị, hòa hợp, chuyên tâm, cần mẫn, trang nghiêm, kham khổ, cầu tiến, rộng lượng, từ ái, vị tha, bình tĩnh, hỷ xả, tự tin, tự chủ, chú tâm, chuộng thiện, tàm quý, tri túc, an bần, chân thật, lạc quan, thanh tịnh, xả ác, ẩn đức, kính nhân, trọng đạo… đều đã được rèn luyện vững chắc, bây giờ có thể xem như thành tựu giai đoạn tu dưỡng thiện tâm này. Hành giả đã đủ khả năng đi vào con đường giải thoát.<br><strong></strong><strong>II. Giai đoạn rèn tâm giải thoát:</strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cũng gọi là giai đoạn xả ly thế gian. Hành giả dứt trừ ái dục, sống nếp sống ngoài vòng tục lụy.<br>&nbsp;&nbsp; Cũng gọi là giai đoạn hướng về Tây phương. Hành giả chuyên tâm cầu sinh Tây phương Cực lạc, thành thực chí nguyện giải thoát.<br>&nbsp;&nbsp; Ở giai đoạn rèn tâm thành thiện trên, hành giả chỉ mới cải đổi tâm trở nên tốt đẹp, sống với niệm từ ái, yêu thương, hành giả còn khởi các ham muốn tốt lành để diệt trừ nghiệp ác. Do vậy, tâm ái dục của hành giả vẫn còn, hành giả còn bị thế gian chi phối, tâm yêu tiếc thế gian còn mạnh, ý rong ruổi thế gian còn nhiều, chí giải thoát còn yếu. Thế nên, khi tâm mình trở nên hiền thiện rồi, hành giả phải tiếp tục giải thoát, xả ly ái dục của thế gian.&nbsp;&nbsp; “Ái” ở đây không có nghĩa là riêng chỉ cho tình thương nam nữ, vợ chồng, mà bao gồm mọi sự đắm trước của chúng sinh đối với muôn loài vạn vật. Tình thương dù với ý nghĩa gì nếu không chừng mực, không có lý trí soi sáng, không hướng thượng và có tính cách ràng buộc, đều gọi là ái. Đắm luyến sự vật cũng gọi là ái. Còn ái luyến thế gian tất còn trở lại thế gian.<br>&nbsp;&nbsp; “Dục” tức ham muốn. Dục ở đây không phải riêng nói về dục lạc xác thịt mà gom chỉ hết tất cả các ham muốn ở thế gian, từ những ham muốn xấu xa đến các ham muốn tốt và các loại ham muốn vô nghĩa, không thiện không ác. Những ham muốn xấu ác, ở giai đoạn đầu hành giả đã phải trừ sạch. Trong giai đoạn này, hành giả còn các ham muốn thiện và vô ký (không thiện không ác) ngoại trừ mong muốn giải thoát, tất cả các mong muốn thiện và vô ký ấy đều phải được xả bỏ. Ví dụ chúng là thiện, chúng còn là thế gian hữu lậu sinh tử. Hành giả lúc chỉ sống và làm những việc cần thiết phải làm chứ không được muốn làm. Muốn hay không muốn đều trái với tâm giải thoát.<br>&nbsp;&nbsp; Ở giai đoạn trước, hành giả cần khởi tâm muốn làm các việc lành. Nhưng ở giai đoạn này thì không được muốn nữa. Vì “muốn’’ là biểu hiện của sự chưa cần và không thật ích. Thực hành công phu giải thoát mà còn ham làm việc này việc nọ, muốn món này món kia thì khó tránh loạn động, không thể xa lìa thế gian, làm sao đạt kết quả giải thoát? Đối với sự vật, dù biết là tốt cũng không được muốn. Tâm muốn vi tế đưa đến tâm tham luyến, tâm muốn thô tháo đưa đếùn tâm tham cầu, cả hai đều là ràng buộc, cả hai đều đến lo âu phiền não khi không thành tựu. Mọi vật, mọi việc đúng duyên phải đến thì không tránh nó, nhưng chưa đến thì không nên muốn, còn đã mất đi thì không nên luyến tiếc.&nbsp;&nbsp; Tâm ái làm cho con người đắm say khi tiếp đối thế gian và khiến người ta tiếc nuối lúc xả ly thế gian. Tâm dục (ham muốn) làm con người tầm cầu dong ruổi theo thế gian. Tâm ái dục này thường gây ra sự sợ hãi lo âu và phiền não khi xa lìa thế gian và gặp cảnh trái với nó, khiến chúng sinh quay cuồng trong các sự việc thế gian, nó là cội gốc của sự luân hồi không dứt.Hành giả tu giải thoát phải tỉnh giác nhận rõ những biểu hiện của ái dục và ngăn trừ khi nó vừa phát khởi nơi tâm. Từ chỗ tiếp xúc với&nbsp; các thứ thuận lợi vừa ý, tâm sinh nên thích, đây là cội nguồn của ái. Mến thích đưa đến thân hậu, lo lắng chăm nom, tức là ái đã hình thành. Từ thân hậu lo lắng, chăm nom, trở nên sợ hãi khi nghĩ nó hoại mất là ái đã mạnh hơn lý trí và buồn nhớ tiếc nuối khi những thứ ấy mất mát hoặc lìa xa, tức đã bị ràng buộc, ái đã ăn sâu nơi tâm thức. Tâm ham muốn phát sinh từ sự phân biệt thấy lợi vừa ý hoặc do lòng ái trước đưa đẩy để thỏa tính tham nhiều. Một ý niệm ham muốn vừa khởi nếu không được tự chủ đoạn trừ sẽ đưa đến sự tìm cầu, suy tính lo âu, sợ hãi và não phiền điên đảo.<br>&nbsp;&nbsp; Hai tâm ái và dục này trợ giúp nhau, nối tiếp nhau làm hành giả luôn loạn động quay cuồng thiếu tỉnh giác, khó chuyên nhất trong việc tu hành.<br>&nbsp;&nbsp; Để xả ái dục, hành giả hãy quán sát về nó để thấu rõ bản chất của nó, rồi chuyên tâm cầu sinh Tây phương. Đây là phương pháp tuyệt diệu nhất.<br>&nbsp;&nbsp; Hành&nbsp; giả quán sát thế gian, quán sát sự vô thường giả ảo và khổ đau của tất cả mọi thứ danh lợi tình cảm và sự vật ở trên thế gian, quán sát sự ràng buộc của thời gian, sự khổ đau trong vòng sinh tử. Quán sát sự điên đảo thấp thỏi ràng buộc ngu si và đau khổ khi còn sống với tâm ái dục, quán sát sự thanh thoát, an lạc, sáng ngời, cao quý khi đoạn dứt ái dục. Bằng sự quan sát chân thật, rõ ràng sâu xa, hành giả sẽ không còn mù mờ về bản chất của ái dục và thế gian. Hành giả sẽ mong muốn xả ly thế gian và dũng mãnh đoạn trừ ái dục, tức đã chặt đứt cội gốc của ái dục. Vì biết rõ bản chất và tướng trạng ô nhiễm của ái dục thì không bị nó lừa gạt, lôi cuốn, thấy nó đưa đến nhiễm ô ràng buộc, đau khổ và u tối thì sẵn sàng từ bỏ.<br>&nbsp;&nbsp; Hành giả không nên đè ép cố quên khi thấy mình khởi sinh ái dục mà phải mạnh dạn đối đầu quán sát tường tận nó để đoạn trừ nó. Vì các vấn đề do hành giả cố quên chỉ vô ích trong khi tâm vẫn thấy thích thú hay đau khổ vì nó. Vì các vấn đề do hành giả cố quên chưa giải quyết sẽ dồn chứa lại nơi tâm, lâu ngày trở nên mạnh mẽ. Một ngày nào đó đủ duyên, chúng sẽ bừng dậy. Lúc ấy, hành giả không thể tự chủ được, hoặc chúng cứ âm thầm phá hoại tâm thức hành giả khiến trở nên cuồng si u tối. Một tâm niệm ham muốn, khao khát tiềm tàng lâu ngày, một ý tưởng yêu thương ẩn chứa nhiều tháng năm do sự chèn ép cố quên không chịu quan sát để phá vỡ, đều là mối nguy hại vô cùng.<br>&nbsp;&nbsp; Đồng thời với việc quan sát ái dục, hành giả cần thường xuyên khởi tâm nguyện cầu sinh Tây phương và tập lối sống không trụ trước, không cố định ở một cảnh, không nương mãi một duyên, không thân không hậu riêng ai, sẵn lòng buông xả những gì mình thích quý, cũng không nên cố thủ ham muốn cái dở xấu, vì ham muốn yêu tiếc vật tốt hay xấu cũng đều là ái dục cả.<br>&nbsp;&nbsp; Khi đã thấu suốt ái dục và thế gian rồi, tâm hành giả sẽ bình tĩnh, sáng suốt, tự chủ trước các cảnh duyên, không cho say đắm với tất cả người hay vật nào. Nhìn mọi thứ, hành giả đều thấy trong đó có mầm khổ đau, ràng buộc, vô thường, u tối sinh tử, trầm luân, và hành giả cũng thấy mọi khổ đau của mình và của người, đều có thể trong mọi lúc, mọi nơi, luôn luôn nguyện cầu sinh về Tây phương, không nghĩ tưởng gì nữa.&nbsp;&nbsp; Nên nhớ, khi chưa thấu triệt ái dục, tâm còn quay cuồng với những ham muốn tiếc thương thì còn chướng ngại lớn trong việc tu hành; dù có cố gắng nguyện cầu sinh về Tây phương, cũng khó tránh khỏi bị tâm ái dục ấy làm đình trệ gián đoạn, vì muốn về Tây phương mà cứ nắm cả Ta bà thì làm sao về Tây phương được.<br>&nbsp;&nbsp; Cũng như muốn kéo cây cho nghiêng về một phía mà cứ để gốc rễ bám cứng vào đất thì làm sao kéo được. Quan sát thấu rõ ái dục để khai phát tâm xả ly thế gian tức là chặt đứt các rễ cây ấy vậy. Có sợ Ta bà mới thật sự thích Tịnh độ, có chán thế gian mới thành tâm cầu về Tây phương.<br>&nbsp;&nbsp; Tuy nhiên, lúc quan sát ái dục vẫn luôn luôn nguyện sinh Tây phương để gieo trồng sâu hạt giống vãng sinh, đồng thời cũng để trợ giúp hành giả buông xả sự đắm trước thế gian. Vì tuy quán sát rõ ái dục, tâm có thể phát sinh xả ly, nhưng do nghiệp ô nhiễm của hành giả nhiều đời huân tập sâu dầy và nghị lực của hành giả còn yếu kém, hành giả vẫn còn cảm thấy sung sướng khi tiếp xúc với ái dục. Mặc dù lý trí thì muốn xả bỏ nhưng thói quen vẫn muốn tìm cầu nắm bắt, vả lại cuộc đời luôn có các duyên khiến nghiệp ái dục tăng trưởng lấn áp cả lý trí. Do đó, song song với sự quán sát để xả ly ái, rất cần có chí nguyện vãng sinh cầu giải thoát để giúp hành giả đủ tâm lực dứt khoát thế gian đoạn trừ ái dục.<br>&nbsp;&nbsp; Nguyện vãng sinh, hành giả phải khởi nguyện liên tục giống như niệm Phật. Hành giả có thể khởi nguyện như thế này:<em>“Nam mô A Di Đà Phật<br>Con nguyện sinh về Tây phương Cực lạc<br>Xin Phật từ bi đến tiếp độ con”.<br>Hoặc nguyện theo bài kệ:<br>“Quy mạng lễ A Di Đà Phật<br>Ở phương Tây thế giới an lành<br>Con nay xin phát nguyện vãng sinh<br>Cúi xin đức từ bi tiếp độ”.<br></em>&nbsp;&nbsp; Hoặc niệm theo các bài sám văn của Chư Tổ soạn. Lời nguyện cốt yếùu càng đơn giản càng hướng mạnh mẽ về Tây phương càng tốt.<br>&nbsp;&nbsp; Với các lời nguyện như thế, hành giả luôn luôn khởi phát nơi tâm, khiến nó ngày càng thấm sâu vào tiềm thức và mạnh mẽ không thay đổi. Một lời nguyền duy nhất như thần chú bất động, hành giả sẽ rèn được tâm vãng sinh kiên cố giống như cây đã ngiêng hẳn về một hướng. Tâm nguyện vững chắc như vậy đã nghiêng về một hướng rồi thì không còn lo bị thế gian ràng buộc. Dù mai kia ngọn lửa vô thường nào thổi lên, cây tâm linh cũng chỉ ngã về phía Tây.<br>&nbsp;&nbsp; Bất cứ trong hoàn cảnh nào, gặp đối tượng gì cũng chỉ một câu nguyện. Lúc này hành giả không nên bận tâm những vấn đề nào khác. Hãy phó mặc cho tất cả nhân duyên định đoạt. Dù cảnh chướng duyên hay thuận duyên cũng không lo nghĩ. Biết mình nhiều nghiệp chướng và kém phước cũng không nên lo sợ tìm cầu làm các việc để tránh nghiệp hay tạo thêm phước. Phải biết rằng nghiệp quả không thể tránh, hãy bình thản đón nhận, có điều không gây thêm nghiệp chướng nữa mà thôi, vì phải tin tưởng hoàn toàn rằng tâm thệ nguyện này vẫn đủ năng lực giúp hành giả vượt qua mọi dòng nghiệp thế gian.<br>&nbsp;&nbsp; Ngay cả các việc phước thiện, nếu do nhân duyên đưa đến thì sẵn lòng không từ khước, nhưng hành giả giải thoát không nên chủ tâm tìm việc để làm, vì tất cả đều là thế gian hữu lậu. Phước vô lậu và tâm giải thoát ở giai đoạn trước, hành giả có thể chuyển lo làm phước để nuôi lớn thiện căn phá trừ ác nghiệp. Nay ở giai đoạn này đặt nặng việc giải thoát, mọi việc lành đều làm với tính cách từ bi tế độ thuận theo nhân duyên, hành giả không làm vì tham muốn phước lạc và dù làm việc gì cũng luôn khởi niệm cầu sinh về Tây phương không gián đoạn. Khởi niệm đến khi nào ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tượng, tâm hồn chỉ biết có Tây phương. Hướng về người cũng chỉ biết có Tây phương, không còn thích muốn gì nữa, chẳng chán ghét gì nữa. Tâm trong lành với ý niệm Tây phương.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong giai đoạn này, hành giả có thể thấy mình còn phan duyên động niệm, tâm thức chưa sáng trong tĩnh lặng, xác thân còn khởi động dục nhiễm. Hành giả không nên quan tâm lo nghĩ về những vấn đề đó, phải biết mình hiện đang thực hành trong giai đoạn rèn chí giải thoát, chưa phải lúc chuyên tu định huệ giải thoát cứu cánh. Do đó hành giả không nên sợ hãi lo lắng làm dao động việc tu tập hiện tại. Nếp sống xả ly thế gian, tâm hồn không đắm say ái dục, luôn luôn hướng về Tây phương là cốt yếu của giai đoạn này. Cố gắng nguyện cầu không ngừng đến khi tâm hồn trở nên bình thản với thế gian, không còn biết ghét thương ham muốn, chỉ có Tây phương là lẽ sống, là nguồn hạnh phúc của cuộc đời. Như thế là thành tựu được giai đoạn thứ hai trên con đường về đến Tây phương này.<br>&nbsp;&nbsp; Từ đây, hành giả có thể an tâm với thánh đạo giải thoát. Niềm an lạc thanh tịnh đã bao trùm cuộc sống hành giả. Hành giả có thể tiến từng bước vững chắc trở về với thanh cảnh giác ngộ tột cùng. Nhờ sự quán xét tường tận ái dục, hành giả có thể tự chủ trước tình cảm, không đắm luyến mặc dù còn rung động trước nó. Người xuất gia không còn sự mê đắm trong vòng tục luỵ. Nhờ luôn luôn nguyện sinh Tây phương, chí hướng ngày càng vững mạnh ăn sâu nơi tâm tưởng, con đường Tây phương được thông suốt, hành giả chắc chắn sẽ được vãng sinh.<br>&nbsp;&nbsp; Chú ý, ở giai đoạn này hành giả vẫn niệm Phật theo thời khóa hoặc thường niệm nhưng chú trọng việc cầu vãng sinh. Có thể chỉ sau vài câu Phật hiệu thì khởi kỳ một lời nguyện và cứ thế hành trì mãi. Ngay ở giai đoạn đầu cũng vậy, cũng vẫn niệm Phật và cầu sinh Tây phương theo thời khóa hoặc thỉnh thoảng khởi tâm niệm Phật cầu nguyện trong các sinh hoạt bình thường, có điều ở giai đoạn đầu thì niệm nguyện để cho tâm được trong lành thuần thiện và không cần chuyên nhất.<br>&nbsp;&nbsp; Hành giả không nên vì ham thích định tâm hay lười khởi niệm mà bỏ qua hoặc lơ là việc nguyện cầu này. Bỏ qua việc nguyện sinh Tây phương cho dù hành giả có chuyên tâm niệm Phật thì cũng khó được vãng sinh. Vì chỉ chuyên tâm niệm Phật, lúc niệm Phật tâm tuy thanh tịnh, quên các duyên ngoài, nhưng tư tưởng ái dục còn mạnh, chí giải thoát còn yếu, sự chuyên niệm ấy cũng khó bền bỉ khi tâm ái dục khởi sinh. Hành giả để gián đoạn việc dụng công và chạy theo ngoại cảnh, hoặc biến việc niệm Phật thành một phương tiện để thành tựu ý tưởng ái dục. Hoặc niệm Phật mà khởi niệm ham thích làm vua, làm quan hay sinh cõi trời này, cõi nước kia. Như vậy, việc niệm Phật trở thành phương tiện để tạo phước hữu lậu thế gian. Đây chính là nguyên nhân làm biết bao người chuyên tu niệm Phật vẫn bị luân hồi. Giống như cái cây không kéo nghiêng hẳn về một phía tốt, cứ để nó nghiêng theo hướng xấu mà nuôi cho cây cao lớn; gặp phải ngọn gió vô thường bật gốc, nó sẽ ngả theo chiều hướng xấu của nó.<br>&nbsp;&nbsp; Mặc dầu có tha lực tiếp dẫn, nhưng tâm hành giả chẳng hướng về Tây phương thì tha lực này cũng không làm sao tiếp dẫn được, vì tha lực của chư Phật đây chẳng phải là loại thần lực thế gian của các quỷ thần. Tha lực này bình đẳng, không vọng động, phát xuất từ một linh thể bên ngoài, mà nó khởi nguồn từ tâm ý hành giả, nó tùy thuộc vào tâm lực nguyện cầu của hành giả mà mạnh hay yếu, giống như tiếng vang nơi hang núi. Do đó, hành giả càng khởi tâm nguyện sâu xa thì tha lực càng trở nên mạnh mẽ; còn ngược lại, ít khởi nguyện thì đương nhiên bị yếu kém, yếu kém thì không đưa hành giả về Tây phương được. Chính vì lẽ đó mà có chỗ nói “tha lực tùy thuộc tự lực” hay “tha lực cũng là tự lực’’.<br><strong>III. Giai đoạn chuyên tu giải thoát, thành&nbsp; tựu&nbsp; niệm Phật tam&nbsp; muội<br></strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây là giai đoạn cuối cùng của con đường Tịnh độ. Hành giả có thể chứng nghiệm Tây phương ngay nơi tâm hồn mình, Tịnh độ trong cuộc sống của mình.<br>&nbsp;&nbsp; Đã tôi luyện vững chắc tâm giải thoát về Tây phương không còn luyến tiếc thế gian, bây giờ hành giả có thể buông các duyên bên ngoài thôi quán sát, chỉ chuyên tâm niệm Phật không gián đoạn.<br>&nbsp;&nbsp; Đi niệm Phật, ngồi niệm Phật, đứng niệm Phật, nằm niệm Phật, làm việc cũng niệm Phật, nói năng cũng niệm Phật… Tất cả đều niệm Phật, chỉ có niệm Phật, không cần nghĩ biết mình, người, vui, khổ, hơn kém, thân sơ…Ta bà, Tây phương gì cũng mặc, cứ A Di Đà Phật. Một cành cây, một ngọn cỏ đều A Di Đà Phật. Chẳng xét nghĩ mà cứ như ngây như khờ với A Di Đà Phật.<br>&nbsp;&nbsp; Ban đầu hành giả niệm ra tiếng, nghe tiếng rành rõ, niệm liên tục không cần đếm mấy câu, chỉ có biết âm thanh A Di Đà Phật, vọng tưởng có sinh cũng đừng quan tâm, chỉ chú ý vào câu A Di Đà Phật. Bên ngoài ồn náo hay yên tịnh gì cũng mặc, cứ lo niệm A Di Đà Phật, niệm đến khi thuần thục, nghe rõ ràng, không bỏ sót một Phật hiệu nào, không duyên theo cảnh ngoài, tâm thích thú với danh hiệu đơn độc A Di Đà Phật do mình khởi phát.<br>Bây giờ hành giả tập lặng lẽ niệm Phật nơi tâm, nghe rõ từng âm thanh do tâm khởi niệm. Lúc khởi, lúc ngưng, lúc có tiếng, lúc yên lặng đều nhậïn biết. Dù nghe thấy biết sự vật chung quanh&nbsp; tâm cũng vẫn khởi niệm luôn luôn không cho gián đoạn, mới còn gắng công, dần dần về sau không gắng công khởi niệm nữa chỉ lắng nghe câu A Di Đà Phật do tâm tự phát ra, khi tâm không phát ra được nữa thì hành giả dụng công niệm trở lại, có thể niệm ra tiếng huân tập Phật hiệu vào tâm. Sau đó lại thả cho tâm tự niệm và chỉ lắng nghe. Cứ như vậy thực hành cho đến khi sự lắng nghe thuần thục, luôn luôn rõ biết không sót các Phật hiệu nơi tâm và đối trước tất cả cảnh duyên, trong tâm vẫn đều đặn tuôn trào Phật hiệu một cách tự nhiên. Khi khởi khi ngưng cũng đều biết rõ. Tâm bên trong và cảnh bên ngoài, hành giả không gì khôn nhận biết.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lúc ấy, hành giả có thể cảm thấy tròng mắt mình như đứng lại nhưng mát mẻ, tâm thức trở nên trong sáng bình lặng giống như tấm gương trong suốt cả hai mặt, trong ngoài đều rõ bóng. Tâm tuy trong sáng nhưng hồng danh Phật vẫn hiển hiện đều đặn tự nhiên. Trong ngần tĩnh lặng, không khởi niệm mà câu niệm vẫn thường hằng, đây là “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm’’.<br>&nbsp;&nbsp; An trú trạng thái này, hành giả sẽ cảm thấy an lạc vô cùng, không cần biết gì là ưu khổ. Thế gian dường như là thánh cảnh trang nghiêm. Nhìn ra ngoài, trước mặt mọi vật đều sáng đẹp lạ thường, tất cả dường như đồng nhất với nhau, đều là hình ảnh của một bức tranh tuyệt mỹ sống động. Cái gì cũng đẹp, cây khô cũng đẹp, cây tươi cũng đẹp, đống rác cũng đẹp, cái khăn cũng đẹp, miếng giẻ lau cũng đẹp… tất cả đều là hoạt cảnh vĩ đại. Tất cả đến một cách rõ ràng trước mắt và đi qua không lưu lại giấu vết gì nơi tâm thức lặng trong, an bình của hành giả. Soi lại mình, hành giả có thể trực nhận bằng chính ánh mắt mình, mình đang trong cảnh mộng. Xác thân này là một bóng hình sinh động trong hoạt cảnh trang nghiêm mộng mị. Chú ý mọi hành động, cử chỉ, lời nói của nó, hành giả cảm thấy như mình đang xem cuốn phim hiện thực, trong đó mình là kẻ đóng tuồng với hình thức con người. Nếu đã từng suy cứu về bản ngã, ngay tâm trạng này, hành giả cóù thể thực chứng “ngũ uẩn này không phải là mình, mình chẳng thật là nam, là nữ, chẳng thật là người, là vật, chẳng thật là gì cả mà cũng là tất cả’’. Hành giả không còn chấp ngã, không dừng trụ ở cảnh trạng ấy, hành giả tiếp tục dụng công. Hành giả phản văn sâu xa hơn, lắng nghe câu Phật hiệu trong tâm chuyên chú hơn. Từ chỗ còn nghe biết âm thanh bên ngoài, cuối cùng không nghe gì bên ngoài nữa, tâm thức hoàn toàn chuyên chú vào hồng danh Phật trong tâm. Lúc niệm Phật, mọi âm thanh bên ngoài dường như không có đối với hành giả vì nhĩ thức đã quay vào trong, ý thức cũng tập trung mạnh mẽ vào âm thanh của tâm. Thường xuyên thuần thục công phu như thế, hành giả đạt đến chỗ quên cảnh, quên thân. Tâm thức trở thành một chuỗi Phật hiệu không đầu mối, không cùng tận, là một dòng niệm A Di Đà Phâït không gián đoạn. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, bên ngoài không còn hiện hữu đối với hành giả, thời gian không gian như tiêu mất đối với hành giả. Chìm đắm hoàn toàn với ý niệm A Di Đà Phật, không một tâm niệm nào khác. Đây là nhất tâm bất loạn, trạng thái nhất tâm này, hành giả chỉ đạt được khi thân tâm ở trong tư thế bình tịnh bất động tĩnh toạ niệm Phật, hoặc đứng yên, hoặc nằm lặng lẽ đều có thể thành tựu trạng thái này. Đạt được mức độï này, ngũ quan nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân của hành giả tinh tế lạ thường, tâm niệm tư tưởng hành giả trở nên rất mạnh mẽ và có sức cảm ứng kỳ diệu. Hành giả tự chủ được những xao động của thân tâm khi đối diện với ngoại cảnh. Một ý nghĩ thoáng sinh sẽ có sức tác động đến chư Thiên, quỷ thần. Ở đây, hành giả đã đủ khả năng vãng sinh với ý niệm và tâm thuần tịnh A Di Đà Phật của mình.<br>&nbsp;&nbsp; Tuy vậy, hành giả hãy tiếp tục dụng công để đạt đến chỗ trọn vẹn. Bấy giờ, hành giả chuyển từ tâm niệm thô A Di Đà trở thành vi tế nhiệm nhặt và luôn luôn phản chiếu nơi tâm. Tâm niệm vi tế A Di Đà dần dần nhưng không còn âm thanh và lan tỏa hoàn toàn vào tâm thức theo sự trong sáng bình tĩnh. Vận dụng miên mật sự phản chiếu, trí giác của hành giả cũng dần dần trở nên vi tế bình tịnh và hướng vào tâm một cách trọn vẹn. Hành giả công phu tinh tiến, tâm niệm vi tế A Di Đà Phật sẽ hòa hợp với sự phản chiếu vi tế bình tịnh ấy. Hành giả dần dần đi vào trạng thái thuần tịnh trong sáng thanh thoát kỳ diệu, ngoại cảnh thâm tâm, thời gian không gian đều bặt dứt, mọi cảm thọ tư tưởng đều diệt tận. Đây là niệm Phật tam muội.<br>&nbsp;&nbsp; An trú chánh định này, tâm sinh lý của hành giả được cải đổi toàn bộ hoàn toàn thanh khiết, đồng thời khai thác các năng lực trí tuệ siêu phàm. Vận dụng trí lực này để quan sát, hành giả sẽ đạt các biện tài vô ngại, thần thông thấu suốt tất cả các pháp; gột rửa hoàn toàn các chấp trước nhiễm ô. Từ đây, hành giả có thể&nbsp; thành tựu thánh đạo giải thoát, và độ sinh một cách tự tại. Hành giả sẵn sàng trở về với thánh cảnh Tây phương bất cứ lúc nào hoặc khi báo thân người mãn hạn. Hành giả sẽ hóa sinh thượng phẩm về Thường Tịch Quang Tịnh Độ.<br>&nbsp;&nbsp; Nên biết trong quá trình từ động sang tịnh, từ thô vào tế, thân tâm hành giả cũng phải được vận dụng hòa hợp. Khi công phu, hành giả có thể gặp những hiện tượng lạ. Những hiện tượng xuất hiện ở trong tâm, nơi xác thân hoặc ở ngoài cảnh, tốt hoặc xấu, đây là do tâm sinh lý của hành giả biến đổi mà ra hoặc do hành giả khởi vọng hay dụng công bất hòa mà có. Hành giả không nên quan tâm chấp trước hoặc vui theo hoặc sợ hãi, chỉ nên nhiếp tâm vào A Di Đà Phật, mặc kệ tất cả, có thể điều chỉnh sự dụng tâm cho điều hòa, khởi niệm đều đặn thong thả, lắng nghe hay quan sát một cách tự nhiên không cố sức. Bình thản dụng công với chí khí buông xả thân mạng, mọi thứ đều sẽ an lành.<br>&nbsp;&nbsp; Trên đây là sơ lược ba giai đoạn chính trong tiến trình tu tập, đưa hành giả từ phàm nhân đầy nhiễm ô phiền não trở thành thánh nhân thuần tịnh thoát trần. Nếu y theo đây mà thực hiện công phu tu tập thì hành giả ít gặp chướng duyên trong lúc dụng công, dễ dàng vượt qua khi có chướng ngại và nhanh chóng đi đến đỉnh giải thoát, không luống uổng một đời người.<br>&nbsp;&nbsp; Ba giai đoạn với những việc làm tuy đơn giản nhưng rất quan trọng và thực tế áp dụng không phải là dễ dàng, hành giả cần phải sáng suốt biết rõ tường tận và khéo léo thực hành.<br>&nbsp;&nbsp; Đối với các nghiệp chướng trong tâm khởi phát, các gió nghiệp báo bên ngoài thổi tới, hành giả cũng phải thông suốt và vượt qua. Tùy mỗi người, mỗi thời điểm mà có các nghiệp chướng khác nhau thô hoặc tế. Nghiệp chướng nào cũng có thể làm đạo tâm hành giả lay chuyển. Do đó, hành giả phải có một niềm tin kiên cố và thâm sâu vào pháp môn mình đang tu tập này, nó sẽ đủ năng lực giúp hành giả vượt qua tất cả. Từ đó, tinh tiến công phu không thay đổi, không lo sợ. Xác định mình đang tu trong giai đoạn nào, hành giả có thể căn cứ theo đó mà tùy tiện uyển chuyển đối tiếp các duyên để tu tập. Tùy duyên mà không đổi chí. Giai đoạn tu thiền thì phải chấp nhận điều gì, phải dứt khoát việc gì. Giai đoạn tu giải thoát thì xả bỏ việc gì, phải thành tựu điều gì. Biết rõ như thế mà thủ xả thì không còn lo ngại. Bằng không rõ thủ xả lộn lạo sẽ làm chướng ngại cho việc tu tiến, không đến được mục đích cứu cánh. Đây là chỗ nói bắt chước vẽ cọp, vẽ không ra cọp mà thành ra chó; bắt chước làm thánh, không trở thành thánh, mà trở thành quỷ… Hành giả cần phải lưu ý kinh điển, là kim chỉ nam dẫn lối, nghiên cứu kỹ lưỡng sẽ giúp hành giả rất nhiều trên đường tu tập. Nhưng cần phải biết ý nghĩa và đối tượng của mỗi lời dạy. Đừng thấy tán dương Bồ tát rồi bắt chước làm theo các việc của Bồ tát. Đừng thấy ca ngợi cư sĩ rồi ham cầu làm các việc của cư sĩ. Phải biết chỗ đứng của mình, mình đang ở mức độ nào, hạnh nào cần tu, hạnh nào chưa thể làm, hạnh nào không cần thiết phải làm… Rõ như thế thì không uổng phí tâm sức và không bị thất bại.<br>&nbsp;&nbsp; Hành giả nên biết đường đời nẻo đạo đều có rất nhiều thăng trầm. Đạo tâm tu hành cũng vẫn thường như thế, có lúc hứng khởi tu, có lúc lại lơ là buông trôi không gắng sức. Đó cũng là biểu hiện nhân duyên thiện căn phước báo của hành giả. Hành giả cần tỉnh giác biết rõ từng chặng đường tâm hồn ấy của mình, đồng thời nương vào duyên mà hành đạo. Không nên cố chấp một hình thức nào, miễn là làm sao giữ được đạo tâm luôn luôn mạnh mẽ, không biến đổi nhạt phai. Lúc đó thể hiện thì hiện, khi cần ẩn thì ẩn, nương vào duyên nào mới dễ tu thì nương vào duyên ấy, gần duyên gì bất lợi thì đừng gần, gặp phải chướng duyên tránh được thì tránh, tránh không được thì bình thản chấp nhận, thường nghĩ đến đạo pháp và mục đích tu hành để duy trì đạo tâm. Như thấy có học mới ham tu thì hãy học, nếu buông các duyên tu mới tiến thì buông các duyên. Gần huynh đệ mới tinh tấn thì cứ gần huynh đệ, ở một mình tâm mới thanh tịnh thì hãy sống một mình.<br>&nbsp;&nbsp; Tuy vậy, dù sống trong môi trường làm đạo tâm suy thoái mà không thể thoát ra được, hành giả cần nên thường xuyên tưởng niệm mục đích tu hành của mình, các gương giải thoát của người xưa và nhất là giữ vững chánh kiến chờ đợi duyên lành thuận đạo. Giống như đi đường, con đường có đoạn khô sạch, có đoạn bùn lầy, có đoạn đá sỏi… liên tiếp nối nhau hết đoạn này đến đoạn khác không đồng nhất. Người đi lúc nào cũng theo chỗ khô sạch mà đi, nhưng bất đắc dĩ phải lội bùn thì cứ lội qua bùn để tiến tới, không ngại sợ, có thể tiến mãi đến mục tiêu cuối cùng. Nên nhớ, tất cả đều có lúc phải hết. Do đó, gặp vui không ham, gặp khổ không sợ. Hành giả hãy vượt qua, vượt qua tất cả để đến bờ giải thoát. Tất cả chung cùng đều giải thoát về cõi Tây phương.&nbsp;

</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/con-duong-tay-phuong-tac-gia-tinh-si/">Con đường Tây Phương Tác giả: Tịnh Sĩ</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/con-duong-tay-phuong-tac-gia-tinh-si/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tịnh Độ Hoặc Vấn Tác giả: HT.Thích Thiền Tâm</title>
		<link>https://chuacoam.com/tinh-do-hoac-van-tac-gia-ht-thich-thien-tam/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/tinh-do-hoac-van-tac-gia-ht-thich-thien-tam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:57:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sách dịch]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1109</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đề từ: &#160;“Ngoài song non xanh giăng màn hoa Triền non thanh tuyền buông cầm ca Trong song kìa ai im như mơ Ngồi xem Thiên Như câu Di-đà Người đời đều ưa cơ Thiền sâu Hành nhơn ai vào tâm vương mầu Đèn sương trơ vơ ngoài trời thu Non Tu, vi trần đều...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tinh-do-hoac-van-tac-gia-ht-thich-thien-tam/">Tịnh Độ Hoặc Vấn Tác giả: HT.Thích Thiền Tâm</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Đề từ:</strong></p>



<p>&nbsp;“Ngoài song non xanh giăng màn hoa</p>



<p>Triền non thanh tuyền buông cầm ca</p>



<p>Trong song kìa ai im như mơ</p>



<p>Ngồi xem Thiên Như câu Di-đà</p>



<p>Người đời đều ưa cơ Thiền sâu</p>



<p>Hành nhơn ai vào tâm vương mầu</p>



<p>Đèn sương trơ vơ ngoài trời thu</p>



<p>Non Tu, vi trần đều gồm thâu</p>



<p>Mà trong A Di hồng danh thâm</p>



<p>Ngàn muôn khôn tìm ra tri âm!</p>



<p>Thiên Như lòng từ soi chân đăng</p>



<p>Đưa người mau ra vòng mê lầm</p>



<p>Hư không chim bay dường như tranh</p>



<p>Lưu tuyền quanh co triền non xanh</p>



<p>Người đi xa xa làn mây trôi</p>



<p>Di-đà chân như nầy tâm lành</p>



<p>Ôi câu hồng danh mầu thâm xa</p>



<p>Sâu cùng chư Tông làng Thiền Na</p>



<p>Buông ra thâu vào đều như như</p>



<p>Tương tư tâm đầy trời Liên Hoa”.</p>



<p>Thiên Như lão nhơn đang tĩnh tọa nơi thất Ngọa Vân, bỗng có người đẩy cửa bước vào, tự xưng là Thiền khách. Lão nhơn im lặng gật đầu chào, đưa tay ra ý mời ngồi. Đối tọa đã lâu, ánh tịch dương tà tà xuyên qua song trúc, lò hương thiền khói sắp muốn tàn, khách từ từ đứng dậy, sửa y phục nghiêm trang, thư thả mở lời thưa thỉnh:</p>



<p>1. Hỏi rằng: Trộm nghe Vĩnh Minh hòa thượng ẩm thọ môn học đơn truyền nơi Thiều Quốc Sư ở Thiên Thai, mà cũng chính là đích tôn của ngài Pháp Nhãn. Khi Hòa thượng trụ trì chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu đã khai thị cho học chúng rất nhiều, biện tài cơ trí dường như gió cuốn, sấm vang, hải nội thiền lâm đều kỉnh xưng là bậc đại tông tượng. Tại sao ngoài sự nói Thiền, Ngài lại tự tu Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, viết sách rộng truyền môn ấy nơi đời? Hơn nữa, Ngài lại làm kệ Tứ Liệu Giản, đại ý nói: “Có Thiền không Tịnh độ, mười người chín ngại đường. Không Thiền có Tịnh độ, muôn tu muôn người sinh”. Qua mấy câu ấy, có phải Ngài đã chủ trương Tịnh độ, tự hạ môn Thiền của mình, lời nói dường như quá đáng chăng? Ngu ý nghi ngờ việc nầy rất nhiều, mong Đại sư chỉ thị!</p>



<p>Đáp: Lời hỏi ấy rất thích đáng! Tuy nhiên, Vĩnh Minh đại sư không phải quá khen Tịnh yểm Thiền, mà thật ra lời nói của Ngài rất có công với bên Tông cũng như bên Giáo. Tiếc vì trong Tứ Liệu Giản, Ngài chỉ nói lược qua đại cương, chưa phát minh hết ý thú, nên chưa đánh tan được mối nghi hoặc của nhà Thiền. Tôi học tập theo Thiền tông, chưa tinh tường về Tịnh độ, nhưng cũng thường qua những kinh sách của môn đó, nên cũng biết phần đại khái.</p>



<p>Tịnh độ là pháp dễ tu dễ chứng, song cũng là môn khó nói khó tin. Cho nên khi còn tại thế, đức Thích-ca Từ phụ vì hàng đệ tử nói kinh A-di-đà đã dự biết chúng sinh đời mạt pháp khó sinh lòng tin tưởng, mới dẫn lời thành thật của sáu phương chư Phật để phá mối nghi và phát khởi tín tâm cho người sau. Lúc thuyết kinh gần xong, nhân nói đến chư Phật khen ngợi mình, đức Bổn sư lại bảo: “Nên biết Ta ở nơi đời ác năm trược làm việc khó nầy đắc quả Vô Thượng Bồ-đề vì tất cả thế gian nói pháp khó tin đây, thật là một điều rất khó!”. Ấy đều là những lời tha thiết, cặn kẽ dặn dò để khuyên người tin tưởng vậy. Vả đấng Thế Tôn đã rủ lòng đại bi, cứu đời trong kiếp mạt, khi kim khẩu nói ra một câu một kệ, hàng nhơn, phi nhơn đều tín thọ phụng hành, nhưng riêng về thuyết Tịnh độ, thế gian có xen lẫn lòng nghi, là tại sao? Bởi giáo môn Tịnh độ cực rộng lớn mà pháp tu Tịnh độ lại quá giản dị, hai điểm ấy dường như cách biệt, khiến cho người nghe khó nén lòng nghi. Nói rộng lớn, là môn nầy thâu nhiếp tất cả căn cơ: trên từ bậc Đẳng giác Bồ-tát, vị Nhất sinh bổ xứ đều cầu về Tịnh độ, dưới cho đến hàng ngu phu, ngu phụ, kẻ tạo Ngũ nghịch, Thập ác, nếu quyết tâm tín hướng đều được vãng sinh. Nói giản dị là người tu không phải quá gian nan lao khổ, không trải qua cảnh giới sai biệt mê lầm, chỉ trì niệm sáu chữ hồng danh mà được thoát Ta-bà, được sinh Cực Lạc, được Bất thối chuyển, cho đến khi thành Phật mới thôi. Bởi có sự rộng lớn mà lại giản dị như thế nên dù cho người trí cũng sinh mối nghi ngờ. Nếu ông nhận thức rõ được điểm nầy, tất sẽ biết lời khen của ngài Vĩnh Minh rất có ý thâm, mà không phải là quá đáng.</p>



<p>*</p>



<p>2. Hỏi: Sự rộng lớn và giản dị, tôi đã nghe lời chỉ dạy. Nhưng bậc ngộ đạt trong Thiền tông, đã gọi thấy tánh thành Phật, há lại khứng chịu cầu sinh về Tây Phương ư?</p>



<p>Đáp: Thật ra, ông chưa biết đó thôi. Chính những bậc ngộ đạt càng cấp thiết cầu sinh. Cổ đức đã bảo: “Không cầu về Tịnh độ, còn nguyện sinh cõi nào?”. Nay ông chưa ngộ đạo, giả sử khi được tỏ ngộ rồi, e cho tâm niệm cầu sinh Cực Lạc của ông, muôn trâu cũng không thể kéo lại!</p>



<p>*</p>



<p>3. Hỏi: Sở dĩ Phật, Tổ ra đời vì độ chúng sinh; học giả chỉ lo việc lớn chưa xong, nếu đã phát minh đại sự (tức ngộ đạo), nên theo gương đấng Đại Giác hiện thân vào nơi khốn khổ, không hiềm đường sinh tử mà độ khắp hàm linh. Nếu bậc đã ngộ đạt mà còn cầu sinh Tịnh độ, đó chẳng qua là tâm niệm chán khổ tìm vui, không đoái đến kẻ đang ở trong vòng chìm đắm? Tôi dù ngu hèn, vẫn không thích làm như vậy!</p>



<p>Đáp: Thấy cái trứng mà muốn cho nó nở liền, tâm niệm ấy sao đà vội gấp! Ông cho rằng sau một phen tỏ ngộ thì nghiệp tập đã dứt sạch, được ngay vị Bất thối chuyển ư? Và cũng không còn học khắp Phật pháp, không cần phải tu hành thêm để chứng những quả vị từ thấp đến cao ư? Hay là ông lại nghĩ: sau một phen ngộ đạo, tất đã đồng hàng với chư Phật, có thể vào sinh ra tử không bị chướng duyên nhiễu loạn ư? Nếu quả như thế thì chư Đại Bồ-tát trải qua hằng hà sa kiếp tu sáu độ muôn hạnh, cũng đều phải hổ thẹn với ông vậy! Cổ giáo đã có lời răn nhắc: “Hàng Thanh văn còn muội lúc ra thai, bậc Bồ-tát còn mê khi cách ấm!”. Hai hạng ấy mà còn như thế, huống chi người ngộ giải non kém, tự cứu chưa xong giữa đời nay ư? Dù cho chỗ tỏ ngộ có sâu xa, trí thông hiểu có cao sáng, hạnh cùng giải hợp nhau, chí quyết muốn độ người; nhưng vì chưa lên hàng Bất thối, lực dụng chưa đầy đủ, mà muốn ở cõi đời ác nầy hóa độ kẻ cang cường, điều ấy bậc Tiên Thánh cũng chưa hứa nhận. Ví như đem chiếc thuyền đóng trám chưa kỹ để vớt người nơi biển dậy ba đào, cái họa trầm nịch cả đoàn tất không tránh khỏi. Cho nên, Luận Vãng Sinh nói: “Muốn du hành nơi địa ngục, muốn cứu độ chúng hữu tình mê khổ, trước phải cầu sinh về cõi kia, đợi khi chứng được Vô sinh nhẫn rồi sẽ trở lại đường sinh tử mà thực hành bổn nguyện. Do nhân duyên ấy nên người tu mới cầu về Tịnh độ”. Lại, Tiên Thánh cũng đã bảo: “Chưa được vị Bất thối chuyển, chưa chứng Vô sinh nhẫn, cần phải thường không rời Phật. Ví như trẻ thơ không nên xa mẹ, như chim non chỉ có thể bay chuyền theo cành cây”.</p>



<p>Nay, ở cõi Ta-bà nầy, đức Thích-ca đã diệt, Phật Di-lặc chưa sinh. Huống nữa, bốn đường khổ thú, nhân quả dây dưa, trăm mối ngoại tà, thị phi rối loạn; sắc tốt tiếng dâm hằng quyến dụ, cảnh hư duyên ác mãi vây quanh. Trong hiện trạng ấy, đã không có Phật để nương nhờ, lại bị cảnh duyên làm khuấy động, hàng sơ tâm ngộ đạo hỏi mấy ai không bị thối lui? Cho nên, đấng Thế Tôn ân cần chỉ về Cực Lạc là bởi lý do ấy. Phương chi ở cõi kia, đức Di-đà hiện đang nói pháp, cảnh diệu độ muôn thứ thuận duyên; đã nương nhờ hải chúng, nhẫn lực mau thành, lại gần đấng Pháp Vương, Phật thừa dễ đạt. Chừng ấy, muốn ra ứng hóa độ sinh, còn chi trở ngại? Cũng vì lẽ ấy, nên bậc thượng căn lợi trí còn nguyện thác sinh, huống chi ông là hạng trung hạ mới được đôi chút giải ngộ đó ư?</p>



<p>Ông há không thấy trong kinh Quán Phật Tam-muội, ngài Văn-thù tự bày tỏ túc nhân, bảo mình đã chứng môn Niệm Phật Tam-muội, thường sinh ở Tịnh độ ư? Do bởi đó, đức Thế Tôn mới thọ ký cho Ngài rằng: “Ông sẽ được sinh về thế giới Cực Lạc”.</p>



<p>Lại chẳng thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ-tát đem mười đại nguyện vương khuyến tấn Thiện Tài Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội, nên dùng công đức đó cầu sinh về Cực Lạc ư? Trong ấy có đoạn nói:</p>



<p>“Tôi nguyện khi đến lúc lâm chung</p>



<p>Dứt trừ tất cả điều chướng ngại</p>



<p>Diện kiến đức Phật A-di-đà,</p>



<p>Liền được sinh về cõi Cực Lạc”.</p>



<p>Lại chẳng thấy trong kinh Lăng-già, đức Thế Tôn đã huyền ký: “Sau xứ Nam Thiên Trúc, có danh đức Tỷ-kheo, tôn hiệu là Long Thọ, hay phá hữu, vô tông. Trong thế gian hiển ngã, pháp Vô Thượng Đại thừa, chứng Sơ hoan hỷ địa, sinh về cõi Cực Lạc” ư?</p>



<p>Và chẳng thấy trong Luận Khởi Tín, Mã Minh Bồ-tát, khen ngợi sự vãng sinh; trong kinh Đại Bảo Tích, Phật hứa khả cho Tịnh Phạn Vương và bảy muôn Thích chúng đồng về An Dưỡng; trong kinh Thập Lục Quán, đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp cho bà Vi-đề-hy cùng năm trăm thị nữ được lễ cẩn đức A-di-đà ư?</p>



<p>Trong mấy vị trên, như vua Tịnh Phạn và bà Vi-đề-hy hiện tiền đều đã chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Ở Tây Trúc, những hạng ấy cầu vãng sinh rất nhiều. Bên Đông Độ thì có Viễn Công ở Lô Sơn cùng các bậc cao nhơn trong Liên Xã, những vị tôn túc ở hai tông Thiên Thai, Hiền Thủ, tất cả đều dùng môn Niệm Phật tự tu và độ người khuyến hóa hàng Tăng tục đồng cầu sinh về Tịnh độ. Nói chung, những bậc cao đức tu Tịnh nghiệp số lượng không biết bao nhiêu mà kể! Đến như hai ngài Văn-thù, Phổ Hiền là bậc Đại Bồ-tát, Thiện Tài Đồng Tử và hải chúng Hoa Tạng đều là bậc đại nhơn trong bốn mươi mốt vị. Mã Minh, Long Thọ là hàng Bồ-tát, mà cũng là bậc Đại Tổ sư.</p>



<p>Những Thánh nhơn ấy chỗ ngộ và chứng siêu xuất hơn người ngộ đạt ngày nay như trời với vực, mà còn nguyện sinh về Tây Phương, ông bảo rằng đã tỏ ngộ không cầu về Cực Lạc, lại bác sự cầu sinh, thì các ngài Văn-thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, chắc là không bằng ông rồi! Ông thử tự lượng xem chỗ tu chứng có bằng hai bậc Đại sĩ và hai vị Tổ sư; sự tham ngộ có bằng ngài Thiện Tài cùng hải chúng, cảnh giới sở đắc và được Phật hứa khả có bằng vua Tịnh Phạn và bà Vi-đề-hy chăng? Vả Tịnh Phạn Vương là thân sinh của Phật, bảy muôn Thích chúng là tộc thuộc của Ngài, nếu sự về Tịnh độ không có lợi ích thì đức Thế Tôn đâu nỡ khiến phụ vương và hàng thân thuộc cầu vãng sinh? Trước kia đã nói bậc chứng được Vô sinh nhẫn có thể vào tục độ sinh, nay vua Tịnh Phạn và người thân thuộc của Phật đã đắc quả ấy mà đức Như Lai còn khuyên và thọ ký cho vãng sinh, thì tấm lòng hộ trì bảo dưỡng của Ngài há chẳng là thân thiết và sâu xa ư?</p>



<p>Tôi thấy hàng Thiền giả đời nay phần nhiều không xét liễu nghĩa của Như Lai, chẳng rõ huyền cơ của Đạt-ma, bụng rỗng lòng cao, tập quen thành bệnh cuồng vọng. Khi thấy người tu Tịnh độ, họ khinh thường và cười bảo: “Đó là việc làm thấp kém của hàng ngu phu ngu phụ!”. Tôi thường cho đó không phải khinh hạng ngu phụ, ngu phu, mà chính là khinh các ngài Văn-thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ; đó chẳng những tự mê chánh đạo, tự làm mất căn lành mà còn tự bỏ quên huệ thân và tự để tiêu Phật chủng. Đó cũng là tự gây ra tội báng Chánh pháp, tự kết thành nghiệp khinh Thánh Tăng. Chư Phật, Tổ xem những kẻ ấy là hạng người đáng thương xót! Vì lẽ ấy nên ngài Vĩnh Minh động mối bi tâm đem hết tâm can chủ trương Tịnh độ, đã tự tu lại khuyên đời. Khi lâm chung, Đại sư biết trước ngày giờ, có các điềm lành ứng hiện; lúc Trà-tỳ Xá-lợi tuôn ra vô số. Về sau có một vị Tăng ở Phủ Châu thường cung kính đi nhiễu xung quanh tháp của Ngài, nhiều người hỏi lý do thì vị Tăng ấy đáp: “Nhân lúc tôi bị bệnh nặng, thần thức đi vào minh giới, Diêm Vương xét thấy thọ số chưa mãn, cho đưa trở về. Khi ấy, tôi thấy bên phía tả đại điện có thiết bàn thờ di tượng một vị Đại đức, Diêm Vương lễ bái ân cần. Hỏi ra thì Quan Chủ lại bảo đó là chân dung của Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư, vì Ngài tu hành tinh tấn, được sinh về Thượng phẩm ở Cực Lạc nên Diêm Vương họa tượng để thờ”. Vĩnh Minh đại sư là bậc đã ngộ suốt môn Thiền trực chỉ của tổ Đạt-ma, mà lại gởi chất nơi phẩm sen thượng thượng bên trời An Dưỡng; những sự kiện ấy đủ giải thích mối tình chấp của người tu Thiền, còn làm duyên khuyến tấn cho chúng sinh đời mạt pháp. Cho nên, tôi nói Ngài rất có công đối với bên Tông cũng như bên Giáo là ở điểm nầy.</p>



<p>Song, chẳng những chỉ có Vĩnh Minh đại sư mới như thế mà thôi. Ngoài ra, còn có Tử Tâm Tân thiền sư đã ngộ bên Thiền, lại khuyên tu bên Tịnh. Ngài đã bảo: “Di-đà rất dễ niệm, Tịnh độ rất dễ sinh. Người tham Thiền niệm Phật rất tốt. Nếu kẻ căn cơ hơi kém, sợ e đời nay chưa được đại ngộ, kiếp sau dễ lạc bến mê, thì nên nhờ sức bi nguyện của đức A-di-đà để sớm vãng sinh về Cực Lạc. Nếu vị nào chí tâm niệm Phật mà không được sinh về Tịnh độ, lão Tăng xin chịu đọa vào địa ngục Bạt Thiệt (ngục rút lưỡi)”. Lại như Chân Yết Liễu thiền sư, trong bài văn Khuyên Tu Tịnh Độ, có nói: “Tại sao người trong tông Tào Động, ngoài sự tập Thiền, còn mật tu Tịnh độ? Sở dĩ có việc ấy, vì pháp môn Niệm Phật là con đường tắt trong các lối tu hành. Xét trong Đại tạng, môn nầy ngoài sự tiếp dẫn bậc thượng thượng căn còn thâu nhiếp hạng người trung hạ&#8230; Bậc đại tượng trong Tông môn đã ngộ pháp phi không phi hữu, lại chăm chú tu Tịnh nghiệp, có phải sự thấy Phật của Tịnh độ còn giản dị hơn tông môn chăng? Cho nên, dù Phật, dù Tổ, hoặc Giáo, hoặc Thiền đều do nơi cửa Tịnh độ đồng về nơi chân nguyên. Vào được môn nầy, tức có thể vào được vô lượng pháp môn khác&#8230;”.</p>



<p>Đến như các Ngài: Thiên Y Hoài thiền sư, Viên Chiếu Bản thiền sư, Từ Thọ Thâm thiền sư, Nam Nhạc Tư thiền sư, Pháp Chiếu thiền sư, Tịnh Yết thiền sư, Tịnh Từ Đại Thông thiền sư, Thiên Thai Hoài Ngọc thiền sư, Lương Đạo Trân thiền sư, Đường Đạo Xước thiền sư, Tỳ Lăng Pháp Chân thiền sư, Cô Tô Thủ Nạp thiền sư, Bắc Nhàn Giản thiền sư, Thiên Mục Lễ thiền sư, những đại lão ấy là bậc tông tượng trong Thiền môn, song xét ra chỗ mật tu và hiển hóa đều phát dương ý chỉ Tịnh độ, tuy không ước hẹn mà ngẫu nhĩ đồng đường.</p>



<p>Chẳng những các vị đại lão ấy như thế mà thôi, tôi lại thường nghe một vị kỳ túc bên Tông môn nói: “Hầu hết Ngũ gia tông phái và những Thiền Tăng trong thiên hạ, đã tỏ ngộ cùng chưa tỏ ngộ, đều quy hướng về Tịnh độ”. Hỏi lý do thì vị đó đáp: “Ngài Bá Trượng Trí Hải thiền sư là đích tử của Giang Tây Mã Tổ, những Tòng lâm trong thiên hạ đều y theo cách thức của Ngài mà kiến lập và Thanh Quy ở khắp Thiền môn đều y theo pháp chế của Ngài mà cử hành. Từ xưa đến nay không ai dám có lời thị phi và trái với pháp chế ấy”.</p>



<p>Theo Thanh Quy của Ngài thì nghi thức tụng cầu cho những vị Tăng bệnh nặng là phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán Phật A-di-đà, rồi cao tiếng niệm Nam mô A-di-đà Phật, hoặc trăm câu, ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng phục nguyện rằng: “Nếu các duyên chưa mãn, sớm được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, sinh về An Dưỡng”. Đó chẳng phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Lại trong nghi thức đưa những vị Tăng đã tịch có đoạn nói: Đại chúng đồng niệm A-di-đà Phật hồi hướng phục nguyện rằng: “Thần siêu cõi Tịnh, nghiệp dứt đường trần, Thượng phẩm sen nở hiện kim thân, Nhất sinh Phật trao phần quả ký”. Đó không phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Đến như lúc Trà-tỳ, trong Thanh Quy lại dạy: Vị Duy-na đánh dẫn khánh niệm Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật mười lần, đại chúng đồng xướng họa theo. Khi xướng xong, lại hồi hướng rằng: “Trước đây xưng dương mười niệm, phụ giúp vãng sinh&#8230;”. Đó không phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Cho nên, lão Tăng nói: “Các Thiền gia trong thiên hạ đều quy hướng Tịnh độ là bởi nguyên nhân đó”.</p>



<p>Tôi nghe những lời dẫn chứng của vị kỳ túc ấy đều có y cứ, nên không biện bác ra sao được. Nhân đó tôi lại chợt hiểu chỗ lập pháp của ngài Bá Trượng tất có thâm ý nhiệm mầu.</p>



<p>Nay ông ở Tòng lâm, thân đã đưa không biết bao nhiêu vị Tăng quy tịch, tai cùng miệng đã nghe và xướng không biết bao nhiêu lần mười niệm, ý đã chuyên chú hồi hướng về Tịnh độ lại không biết bao nhiêu lần! Thế mà ông đã không hiểu ý Tổ sư, đã không phát lòng thức tỉnh, lại lầm bảo: những bậc ngộ đạt không nguyện vãng sinh. Quả thật, cái bệnh chấp Thiền trong thiên hạ, không còn ai hơn ông được!</p>



<p>*</p>



<p>4. Hỏi: Sự nhiếp cơ của Tịnh độ quả thật là rộng, ngu giả không còn dám luận bàn. Nhưng tôi thường nghe nói: “Di-đà bổn tánh, Tịnh độ duy tâm”, trong ý cũng có trộm mừng! Đến chừng xem qua các kinh luận về tông nầy thì Tịnh độ là miền Cực Lạc ngoài muôn ức cõi, Di-đà là vị giáo chủ ở Liên Bang. Như vậy thì kia đây cách xa, ngoài nghĩa lý duy tâm bổn tánh rồi! Thế là ý chỉ gì?</p>



<p>Đáp: Chỗ hiểu ấy còn nông cạn hẹp hòi. Ông không biết rằng Chân tâm của ông rộng rãi và sáng suốt vô cùng? Kinh Lăng-nghiêm nói: “Những non sông đất liền cho đến hư không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh vật trong Chân tâm mầu sáng”. Lại nói: “Các pháp sinh hóa đều là hiện cảnh của duy tâm”. Thế thì đâu có cõi Phật nào ngoài tâm ta ư? Cho nên, ý nghĩa của Tịnh độ duy tâm là nói cõi Tịnh độ ở trong Chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô lượng bóng bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại như những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào chẳng phải là đất; cũng như không có cõi Phật nào chẳng phải là tâm. Nên Tiên Thánh đã nói: “Chỉ một tâm nầy có đủ bốn cõi là: Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Vô Chướng Ngại và Thường Tịch Quang”.</p>



<p>Cõi Phàm Thánh Đồng Cư có hai: Đồng Cư Tịnh Độ và Đồng Cư Uế Độ. Đồng Cư Uế Độ là như cõi Ta-bà trong quốc độ nầy, có phàm Thánh ở chung lẫn, mà phàm và Thánh đều có hai hạng. Hai hạng của phàm là ác chúng sinh, tức bốn thú và thiện chúng sinh, tức trời người. Hai hạng của Thánh là Thật Thánh và Quyền Thánh. Thật Thánh là các Thánh nhơn thuộc bốn đạo quả, bậc Bích-chi Phật, bậc Thất địa trong Thông giáo, Thập trụ trong Biệt Giáo, Thập tín hậu tâm trong Viên giáo. Những vị nầy phần thông hoặc tuy dứt, song sắc thân quả báo hãy còn, nên đều gọi là Thật. Quyền Thánh là các vị Bồ-tát trụ ở những cõi Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang cùng bậc Diệu Giác (Phật) vì làm lợi lạc cho kẻ hữu duyên nên ứng sinh vào cõi Đồng Cư. Bởi tùy cơ thị hiện nên gọi là Quyền. Những vị trên đây cùng với phàm phu đồng ở, nên gọi là Phàm Thánh Đồng Cư, và cảnh cư trú về phần khí thế giới, có hầm hố, gai góc, bùn đất, cùng các tướng nhơ nhớp, về phần hữu tình giới có bốn ác thú, nên gọi là Uế Độ. Đồng Cư Tịnh Độ là như cõi Cực Lạc, tuy y báo, chánh báo nơi đây trang nghiêm mầu nhiệm, không có bốn ác thú, song cũng gọi Phàm Thánh Đồng Cư vì chúng sinh sinh về cõi nầy không phải đều là bậc đắc đạo. Như trong kinh nói: “Hạng người phạm tội nặng, khi lâm chung chí tâm sám hối và niệm Phật đều được vãng sinh”. Do đó, nên biết nơi cõi nầy, chúng sinh còn hoặc nhiễm cũng có thể được ở. Thế giới Cực Lạc cũng có hai hạng Thánh cư và bởi y báo, chánh báo đều sạch sẽ trang nghiêm nên gọi là Tịnh độ. Để nói rộng thêm, tuy gọi Tịnh độ nhưng thật ra trong ấy có nhiều hạng hơn kém không đồng. Như thế giới Diệu Hỷ, tuy là Tịnh độ, song còn có nam nữ và núi Tu-di, và Tịnh độ đã như thế, uế độ cũng như vậy.</p>



<p>Cõi Phương Tiện Hữu Dư là chỗ ở của bậc Nhị thừa và ba hạng Bồ-tát đã chứng Phương Tiện Đạo. Những vị nầy do tu hai môn quán, dứt phần thông hoặc, phá hết trần sa, bỏ thân phần đoạn, thọ thân Pháp tánh, tự tại ở ngoài ba cõi; nhưng vì họ chưa đoạn được Biệt hoặc vô minh nên còn có sự Biến dịch sinh tử. Sở dĩ gọi là Phương Tiện vì đó là cảnh giới của hành nhơn tu chứng Phương Tiện Đạo. Gọi Hữu Dư là bởi họ chưa đoạn được vô minh. Cho nên, trong Thích Luận nói: “Ngoài Tam giới có cõi Tịnh độ, đây là chỗ của hàng Thanh văn, Bích-chi Phật cư trú, thọ Pháp tánh thân, không còn sự Phần đoạn sinh tử”.</p>



<p>Cõi Thật Báo Vô Chướng Ngại là nơi không có hàng Nhị thừa, chỉ thuần là bậc Pháp thân Bồ-tát ở. Những vị nầy phá từng phần vô minh, chứng từng phần Pháp tánh, được quả báo chân thật. Song vì họ chưa đoạn hết vô minh nên còn nhuận vô lậu nghiệp, thọ Báo thân Pháp tánh, và cảnh giới nầy cũng gọi là Quả Báo Độ. Kinh Nhân Vương nói: “Ba hiền, mười Thánh trụ Quả Báo” là chỉ cho sự việc trên đây. Sở dĩ gọi Thật Báo vì các Đại sĩ ấy do quán Thật tướng, phát được chân vô lậu, thọ hưởng quả báo chân thật. Gọi Vô Chướng Ngại là bởi chư Bồ-tát đây tu Chân Không Định, sắc cùng tâm không ngăn ngại lẫn nhau. Trong kinh Hoa Nghiêm, thuyết minh thế giới Nhân Đà La Võng, chính là cảnh nầy.</p>



<p>Cõi Thường Tịch Quang là chân lý Pháp giới như như, sáng suốt cùng cực của bậc Diệu Giác. Đây là Phật tánh Chân như, tức độ là thân, tức thân là độ, thân và độ không hai, là trụ xứ của đức Tỳ-lô-giá-na, cũng gọi là Pháp Tánh Độ. Thường chính là đức Pháp thân. Tịch là đức Giải thoát. Quang là đức Bát-nhã như chữ Y có ba điểm, không thể cách lìa, một tức là ba, ba nguyên vẫn một. Đây cũng gọi là Bí Mật Tạng, là cảnh giới du hóa của Như Lai, cứu cánh chân thường, thanh tịnh cùng cực.</p>



<p>Hai cõi trước là chỗ ở của Ứng thân Phật. Cõi thứ ba cũng thuộc về Ứng cũng thuộc về Báo, mà chánh thức là chỗ ở của Báo thân Phật. Cõi thứ tư không phải Ứng và Báo mà kiêm cả Ứng, Báo, là chỗ ở của Pháp thân Phật.</p>



<p>Bốn cõi trên đây tùy theo chỗ tu chứng mà phân chia, song kỳ thực vẫn là một. Cho nên, Chân tâm bao trùm muôn tượng, vô biên quốc độ như vi trần ở khắp mười phương chính là cảnh giới trong tâm ta, hằng sa chư Phật trong ba đời, cũng là các đức Phật trong tâm ta; tất cả không ngoài bổn tâm mà có. Hiểu được lý nầy thì biết không có cõi nào chẳng nương nơi tâm ta mà kiến lập, không có vị Phật nào chẳng nương nơi tánh ta mà xuất sinh. Thế thì miền Cực Lạc ngoài mười muôn ức cõi há chẳng phải là cảnh Tịnh độ của duy tâm ư?</p>



<p>Thế giới Cực Lạc đã như thế thì vị giáo chủ ở cõi ấy cũng là đức Di-đà của bổn tánh. Nên biết chỉ một tâm nầy bao trùm đủ mười giới, thân và độ dung thông, trùng trùng không ngại. Lại nên biết tâm, Phật, chúng sinh, ba chính là một, đồng thể không khác nhau, chúng sinh và Phật hỗ hiện, mỗi niệm giao tham. Cho nên cổ đức nói: “Chúng sinh trong tâm chư Phật, mỗi trần đều là Cực Lạc; chư Phật trong tâm chúng sinh, mỗi niệm chính thật Di-đà. Mười phương tịnh, uế gom về trong khoảng Sát-na. Một niệm sắc tâm, bủa khắp gồm thâu Pháp giới”. Xem thế thì biết, tất cả đều sẵn đủ trong thể thiên chân, không phải do duyên khởi mới thành lập. Một tâm niệm đã như thế, một điểm trần lại khác chi? Vì vậy nên mới có thể:</p>



<p>“Trong mỗi mỗi trần tất cả cõi</p>



<p>Trong mỗi mỗi tâm tất cả tâm</p>



<p>Mỗi mỗi tâm trần lại khắp nhau</p>



<p>Trùng trùng không tận, không chướng ngại</p>



<p>Đồng thời hiện rõ không ẩn hiển</p>



<p>Tất cả viên thành chẳng kém hơn”.</p>



<p>Cảnh giới Chân tâm bao hàm vô biên quốc độ trên đây, như lưới báu Thiên Châu của trời Đế Thích, bóng và ánh sáng của bao nhiêu hạt châu đều gom hiện vào một hạt châu, bóng và ánh sáng của một hạt châu lại hiện khắp vào tất cả các hạt châu khác. Tuy mỗi mỗi hạt châu giao hiện lẫn nhau, nhưng hạt châu nầy không thể là hạt châu kia, hạt châu kia không thể là hạt châu nầy, xen mà không tạp, lìa mà chẳng phân, mỗi mỗi khắp bày, vẫn không sở tại! Thế giới Cực Lạc cho đến mười muôn ức cõi mỗi miền cũng như một trong các hạt châu. Nói tinh tế hơn, khắp mỗi cõi từ Tam thừa Thánh nhơn cho đến trời, người, Tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, mỗi mỗi lại cũng như một trong các hạt châu. Và đức A-di-đà cũng là một trong các hạt châu. Cho nên, thấy một vị Phật tức thấy mười phương chư Phật, mà cũng là thấy chín giới chúng sinh ở khắp mười phương. Cõi Phật vô biên, mười phương kim cổ toàn thể là một hải ấn đốn viên, không còn pháp chi khác nữa!</p>



<p>Như thế thì thân trải qua mười muôn ức cõi, chính hóa sinh trong bổn tâm ta; chất gởi nơi chín phẩm hoa sen, há cách biệt ngoài chân như Phật? Những lời dẫn giải trên đây đều là những minh huấn của Phật, Tổ, Thánh, Hiền đã tuyên dương vậy. Hiểu được lý này tất sẽ thấy thế giới Cực Lạc là duy tâm, mỗi cõi Phật mỗi điểm trần đều là duy tâm; đức Di-đà là bổn tánh, mỗi vị Phật mỗi chúng sinh cũng đều là bổn tánh. Như thế lại còn chi phải nghi ngờ?</p>



<p>Lời phụ:</p>



<p>Pháp giới Chân tâm là một thể rộng rãi vô biên, bao hàm vi trần thế giới, chư Phật và chúng sinh. Trong thể nhất chơn ấy, phần thế giới chúng sinh luôn luôn biến đổi, thuộc về Sinh diệt môn; phần tịch quang lặng mầu sáng suốt và thường hằng gọi là Chân như môn. Chân tâm là một thật thể chung, gồm hai môn hữu vi và vô vi đó. Tất cả những danh từ: Chân tâm, Bổn tánh, Bản thể, Phật tánh, Như Lai Tạng, Pháp giới, Pháp tánh, Thật tướng, Niết-bàn, Pháp thân, Vô Cấu Bạch Tịnh Thức, Như Lai A-lại-da Thức, Bản lai diện mục, Bát-nhã, Chân không, đều là chỉ cho thật thể ấy.</p>



<p>Để trở về thật thể nầy, giáo môn của Phật chia làm hai. Các tông như: Thành Thật, Tam Luận, Thiên Thai, Thiền, Thai Tạng Bộ của Mật giáo từ nơi Không môn mà đi vào. Còn các tông: Câu-xá, Pháp Tướng, Luật, Hoa Nghiêm, Tịnh độ và Kim Cang Bộ của Mật giáo lại do nơi Hữu môn mà thể nhập. Cho nên, những vị hiểu sâu về lý Bát-nhã của Thiền, hay lý huyền môn của Hoa Nghiêm đều nhận rõ sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc. Trái lại, các vị học chưa thấu đáo, nếu không chấp có tất cũng chấp không. Nhưng chấp có thì còn biết kiêng sợ nhân quả, lánh dữ làm lành, đời sau hưởng phước nhân thiên, hoặc chuyên niệm Phật lại có thể sinh về Tịnh độ. Đến như chấp không tất sẽ đi đến chỗ bài nhân quả, bác Phật Thánh, tương lai bị đọa xuống Tam đồ. Cho nên, tiên đức đã răn bảo: “Thà chấp có như non Tu, chớ chấp không như hạt cải!”.</p>



<p>Vị Thiền giả trên, vì chưa nhận rõ Chân tâm, nên nghe nói “duy tâm Tịnh độ, bổn tánh Di-đà”, vội hiểu lầm rằng tâm mình thanh tịnh đó là Tịnh độ là Di-đà rồi, chớ không có cõi Cực Lạc hay đức Di-đà nào khác nữa. Phật pháp dù ở xứ nào, Trung Hoa hay Việt Nam cũng có hạng người tà kiến chấp không ấy. Đại khái họ bác không có Di-đà, Cực Lạc, không có địa ngục, thiên cung, hoặc như nói Địa Tạng là tâm địa tánh tạng, chớ không có đức Địa Tạng nào cả. Như người đeo cặp kiếng đen thì thấy nơi nào cũng tối tăm, những kẻ ấy dù có giảng thuyết bao nhiêu lời, diễn dịch bao nhiêu kinh sách, kết cuộc cũng lạc vào bệnh không chấp. Những kẻ chấp không thường tự cao tự mãn, cho mình là cao siêu, bác người là chấp tướng. Xét ra khi diễn dịch kinh, họ cũng có tâm muốn hoằng dương Phật pháp, không dè ngược lại thành ra kết quả hủy báng Tam Bảo; tự mình đã sai lầm, khiến cho bao nhiêu người khác bị lầm lạc theo. Ví như kẻ dùng y đem tâm muốn cứu đời, chẳng ngờ sự học hiểu về y dược không rành, trở lại làm cho nhiều người thêm bệnh.</p>



<p>Cho nên sự dịch kinh, thuyết pháp, vị tất là có phước, là hoằng dương Phật giáo nếu hành giả lạc vào tà kiến, không hiểu ý kinh.</p>



<p>*</p>



<p>5. Hỏi: Đã gọi tịnh uế dung thông, mỗi điểm trần đều là Cực Lạc, tại sao cõi Ta-bà lại thành uế độ?</p>



<p>Đáp: Do nghiệp cảm của phàm phu, chính nơi tịnh mà thành uế. Còn Phật nhãn nhìn xem tất cả uế đều thành tịnh. Báo cảnh của đức Thích-ca, há phải thật là uế ư?</p>



<p>6. Hỏi: Lý duy tâm bao gồm tất cả, viên dung không ngại, tôi đã tin là rộng lớn, là nhiệm mầu. Nhưng kẻ còn trệ nơi tình mê, chưa lìa nghiệp uế, làm sao mà được thanh tịnh?</p>



<p>Đáp: Tâm nhơ thì cõi nhơ, tâm sạch thì cõi sạch. Kinh Duy-ma nói: “Muốn được Tịnh độ, trước phải tịnh tâm; tùy tâm thanh tịnh, cõi Phật thanh tịnh”. Pháp tu Tịnh độ là một môn huyền diệu để đi đến chỗ tịnh tâm, không còn phương tiện nào đặc biệt hơn nữa!</p>



<p>*</p>



<p>7. Hỏi: Về phần đại khái của pháp môn Tịnh độ, tôi có thể nghe được chăng?</p>



<p>Đáp: Tịnh độ nguyên không chi tu, tu nhân bởi mê lầm mới có; pháp môn vẫn không cao thấp, cao thấp do căn lành mà phân. Vì chúng sinh căn cơ sai biệt nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, nếu tóm lại, có thể chia thành ba môn là: Quán tưởng, Ức niệm, và Chúng hạnh.</p>



<p>Môn thứ nhất, nói Quán tưởng là như trong Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân Pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh”. Cho nên khi tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển Chánh Biến Tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sinh. Vì thế các ông phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân đức Phật kia.</p>



<p>Thiên Thai Sớ nói: “Mấy chữ chư Phật Như Lai sắp xuống là thuyết minh tất cả chư Phật; mấy chữ phải nhớ nghĩ sắp xuống là chỉ cho quán tưởng riêng đức A-di-đà. Pháp giới thân là Pháp thân của Báo Phật. Tâm chúng sinh tịnh, Pháp thân tự hiện nên gọi là “vào”; như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có thể tùy vật hiện hình vậy. Lại Pháp giới thân là chỉ cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy Pháp giới làm thể. Khi hành giả chứng được môn Quán Phật Tam-muội nầy, giải nhập tương ưng, nên nói vào trong tâm tưởng. “Tâm nầy làm Phật” là Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sinh tâm tịnh mới có. “Tâm nầy là Phật” ý nói trước nghe bảo: Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sinh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho rằng bỗng nhiên mà có, nên mới nói “là Phật”, mới khởi tu quán nên nói “làm”, sự tu đã thành nên gọi “là”.</p>



<p>Diệu Tông Thích nói: “Muốn tưởng thân Phật, phải hiểu rõ quán thể. Thể đó là Bổn giác, từ nơi đây mà khởi thành pháp quán. Bổn giác là thân Pháp giới của chư Phật, vì chư Phật không sở chứng chi khác, toàn chứng bổn tánh của chúng sinh. Nếu Thủy giác có công, Bổn giác mới hiển, nên nói Pháp thân từ nơi tâm tưởng mà sinh”. Lại đức Di-đà cùng tất cả chư Phật đồng một Pháp thân một trí huệ, sự ứng dụng cũng như vậy. Hiển được thân đức Di-đà tức là hiển được thân chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể Di-đà. Cho nên, trong văn kinh nói rộng qua chư Phật để kết về sự quán tưởng đức A-di-đà. Từ mấy chữ thân Pháp giới trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo cảm ứng và ước về lý giải nhập tương ưng.</p>



<p>Phê bình về hai lời giải trên, ngài Dung Tâm đã nói: “Nếu không có lời giải trước thì môn Quán tưởng ấy không phải là quán Phật; như không có lời giải sau, e học giả hiểu lầm rằng thể của chúng sinh và Phật, khác nhau. Hai lối giải đã tác thành cho nhau mà thuyết minh quán pháp vậy”.</p>



<p>Môn thứ hai, nói Ức niệm là hành giả hoặc duyên theo tướng tốt, hoặc trì danh hiệu của Phật, đều gọi là “Ức niệm”. Môn nầy có lý có sự. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát trưởng giả nói: “Nếu tôi muốn thấy đức Vô Lượng Thọ Như Lai và thế giới An Lạc thì tùy ý liền được thấy. Tôi có thể biết rõ tất cả chư Phật, quốc độ tùy thuộc cùng những việc thần thông của các Ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây không từ đâu mà đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ trụ; cũng như thân tôi không thật có đi đứng, tới lui. Các đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, vì tôi hiểu rõ tất cả chư Phật cùng với tâm mình đều như mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp như hình bóng hiện trong nước. Tôi đã ngộ tâm mình như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn hóa. Lại biết chư Phật Bồ-tát trong tự tâm, đều như tiếng vang, như hang trống tùy theo âm thanh mà phát ra tiếng dội lại. Vì tôi ngộ giải tâm mình như thế nên có thể tùy niệm thấy Phật”.</p>



<p>Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: “Từ câu đầu đến mấy chữ chỗ của các Ngài chính là thuyết minh lý duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào Chân như Tam-muội. Khi hành giả hiểu rõ các cảnh tướng đều hư huyễn, duy tâm hiện ra, đã ngộ duy tâm và tức tâm là Phật, thì tùy chỗ tưởng niệm, không đâu chẳng là Phật. Đoạn sau nêu ra bốn điều thí dụ: “cảnh mộng” là dụ cho lý không đến không đi, “hình bóng trong nước” là dụ cho lý không ra không vào, “tướng huyễn hóa” là dụ cho lý chẳng có chẳng không, “tiếng vang” là dụ cho lý chẳng tan chẳng hợp. Và dụ thứ nhất là nói toàn thể đều duy tâm, dụ thứ hai nói vì duy tâm nên không, dụ thứ ba nói vì duy tâm nên giả dụ, thứ tư nói vì duy tâm nên trung. Bốn dụ đều đủ bốn quán, gồm thông và biệt để hiển lý duy tâm, tất cả vẫn viên dung không ngại, đó là ý Kinh Hoa Nghiêm”.</p>



<p>Nếu hành giả hiểu rõ lý trên đây, rồi chấp trì bốn chữ A-di-đà Phật, không dùng tâm có, tâm không, tâm cũng có cũng không, tâm chẳng phải có chẳng phải không, dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó gọi là Lý Ức niệm. Và ngày đêm sáu thời cứ như thế mà nhiếp tâm trì niệm không cho gián đoạn, không sinh một niệm thì chẳng cần vượt giai tầng mà đi thẳng vào cõi Phật. Đây cũng gọi là Lý nhất tâm.</p>



<p>Về sự Ức niệm, như trong Kinh Lăng-nghiêm nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ”. Hay như các kinh sách khác đã chỉ dạy, hoặc hệ niệm suốt một đời, hoặc trì niệm trong ba tháng, bốn mươi chín ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng lòng tin sâu, nguyện thiết, chấp trì câu niệm Phật như rồng gặp nước, như cọp dựa non thì được sức Phật gia bị đều vãng sinh về Cực Lạc. Theo trong kinh, cho đến hạng phàm phu tạo tội Ngũ nghịch Thập ác, nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười niệm, cũng được vãng sinh. Và đây gọi là Sự nhất tâm.</p>



<p>Nói tóm lại, Lý nhất tâm là người thông đạt bốn lý quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Sự nhất tâm là hành giả tâm còn giữ niệm, mỗi niệm không cho xen hở, đi đến chỗ không còn tạp niệm. Lý nhất tâm là hành môn của bậc thượng căn, Sự nhất tâm thông về hàng trung, hạ.</p>



<p>Môn thứ ba, nói Chúng hạnh là hành giả dùng nhiều hạnh để vãng sinh về Cực Lạc. Như trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ-tát khuyến tấn Thiện Tài Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện vương cầu sinh Tịnh độ. Mười đại nguyện ấy là: 1. Lễ kính chư Phật; 2. Khen ngợi Như Lai; 3. Rộng tu sự cúng dường; 4. Sám hối nghiệp chướng; 5. Tùy hỷ các công đức; 6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân; 7. Thỉnh Phật trụ ở đời; 8. Thường theo Phật tu học; 9. Hằng tùy thuận chúng sinh và 10. Hồi hướng khắp tất cả. Trong mỗi nguyện ấy đều có nói: “Khi nào cõi hư không, cõi chúng sinh, nghiệp chúng sinh, phiền não của chúng sinh hết, thì nguyện tôi mới hết”. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý, thực hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi. Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để lại, cho đến các căn đều tan rã, duy đại nguyện ấy hằng theo bên mình, trong khoảng Sát-na, hành giả liền được sinh về Cực Lạc. Đây là nói về dùng nguyện lực để vãng sinh.</p>



<p>Lại như trong kinh Đại Bảo Tích, đức Thế Tôn bảo ngài Di-lặc: “Mười thứ tâm nầy, không phải hạng phàm ngu, bất thiện, kẻ nhiều phiền não có thể phát được. Mười thứ tâm ấy là gì?</p>



<p>1. Đối với chúng sinh khởi lòng đại từ, không làm tổn hại.</p>



<p>2. Đối với chúng sinh khởi lòng đại bi, không làm bức não.</p>



<p>3. Với Chánh pháp của Phật, hết lòng hộ trì, không tiếc thân mạng.</p>



<p>4. Với Chánh pháp sinh lòng thắng nhẫn, không chấp trước.</p>



<p>5. Tâm điềm tĩnh an vui, không tham sự lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng.</p>



<p>6. Tâm cầu chủng trí của Phật trong tất cả thời không quên lãng.</p>



<p>7. Đối với chúng sinh khởi lòng tôn trọng cung kính, không cho là hạ liệt.</p>



<p>8. Không tham trước thế luận, với phần<br>Bồ-đề sinh lòng quyết định.</p>



<p>9. Tâm thanh tịnh không tạp nhiễm, siêng trồng các căn lành.</p>



<p>10. Đối với chư Phật, xả ly các tướng, khởi lòng tùy niệm”.</p>



<p>Đây là mười thứ phát tâm của Bồ-tát, do tâm nầy nên được vãng sinh. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong mười tâm trên, muốn sinh về thế giới Cực Lạc mà không được như nguyện, đó là điều không khi nào có. Đoạn kinh trên là nói về dùng tâm lực để vãng sinh.</p>



<p>Lại nữa, như trong kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni, đức Quán Thế Âm Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sinh về các cõi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng Tam-muội biện tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được như nguyện, thì chú nầy không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni; duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành”. Ngoài ra, những kẻ chí tâm trì tụng các chú như: Bạch Tán Cái, Chuẩn Đề, Vãng Sinh đều có thể sinh về Cực Lạc hoặc các Tịnh độ khác. Đây là nói về dùng thần lực để vãng sinh.</p>



<p>Và, như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Muốn sinh về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước:</p>



<p>1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành.</p>



<p>2. Thọ trì Tam quy, giữ kỹ các giới, không phạm oai nghi.</p>



<p>3. Phát lòng Bồ-đề, tin lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn người tu hành”.</p>



<p>Ba thứ phước nầy là chánh nhân Tịnh nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”. Đây là nói về dùng phước lực để vãng sinh.</p>



<p>Ngoài ra, những kẻ cất chùa, xây tháp, tạo tượng, lễ bái tán tụng, giữ gìn trai giới, đốt hương, rải hoa, cúng dường tràng phan, bảo cái, trai Tăng, bố thí, nếu hạnh lành thuần thục, dùng lòng tín nguyện hồi hướng, đều có thể vãng sinh. Các điều dẫn ra trên đây gọi là Chúng hạnh. Nhưng nguyện hạnh đã có lớn nhỏ không đồng, lý sự sai biệt, thì việc thấy Phật, nghe pháp, cảm thọ y chánh tất cũng có hơn kém khác nhau, đây là chỉ nói phần đại lược.</p>



<p>Lời phụ:</p>



<p>Muốn sinh về Cực Lạc, hành giả có thể dùng một trong các hạnh: nguyện lực, tâm lực, thần lực, phước lực để hồi hướng, không phải chỉ đặc biệt có môn Quán tưởng hay Trì danh. Tuy nhiên, trong bốn phương pháp ấy, người tu phải thực hành cho đến độ công đức tinh thuần, hạnh lành thành tựu mới có hy vọng. Mà kẻ dung thường thì nghiệp chướng nặng không dễ gì đoạn, hạnh lành khó không dễ gì thành, duy có hạnh Trì danh nương cầu nơi tha lực là chắc chắn nhất. Cho nên, Ấn Quang pháp sư nói: “Hạng phàm phu kém cỏi mà được vãng sinh toàn là nhờ từ lực của Như Lai”. Vậy người niệm Phật đời nay muốn cho phần vãng sinh được đảm bảo, nên lấy sự Trì danh làm phần chánh, còn các công đức như: tụng kinh, trì chú, bố thí và những hạnh lành khác, để vào phần trợ, mới là đường lối an toàn.</p>



<p>Trong ba môn của ngài Thiên Như trình bày, đại khái môn thứ nhất nói về Thật tướng niệm Phật, hạng trung, hạ khó hành trì. Môn thứ ba thì hạng dung thường, nhiều nghiệp duyên cũng ít có hy vọng, chỉ nên dùng làm phần trợ. Duy phương pháp Sự Trì danh thuộc môn thứ hai là mọi người đều có thể thực hành và có hy vọng thành tựu. Tuy nhiên, vì căn tánh của chúng sinh khác nhau, Ngài phải nói cho đủ để mọi người tùy sở thích mà lựa chọn. Về phần dịch giả chỉ căn cứ theo phần đông hạng dung thường đời nay mà biện minh sự lợi hại thế thôi.</p>



<p>*</p>



<p>8. Hỏi: Tôi nghe Thiện Tài Đồng Tử là bậc viên đốn lợi căn, một đời được chứng quả. Sao đức Phổ Hiền không khuyên Ngài sinh về cõi Hoa Tạng mà lại khuyên sinh về Cực Lạc, là ý thế nào?</p>



<p>Đáp: Trong Hoa Nghiêm Sớ có lời hỏi ấy. Sớ bổn đã đáp: “Việc đó hàm ẩn nhiều lý do: vì có nhân duyên, vì để tâm niệm được quy nhất, vì không lìa cõi Hoa Tạng, vì tức là bổn sư”. Hai lý do trước dễ hiểu. Lý do thứ ba là trong thế giới Hoa Tạng có vi trần cõi Phật, miền Cực Lạc cách đây mười muôn ức Phật độ, tất cả đều không ngoài số sát chủng ấy. Lý do thứ tư là như trong kinh nói: “Hoặc thấy pháp hội Phật Vô Lượng Thọ, có nhiều vị Bồ-tát như Quán Thế Âm vi nhiễu, liền khen ngợi thân dị hóa của đức Tỳ-lô-giá-na. Tỳ-lô-giá-na Như Lai là giáo chủ cõi Hoa Tạng, đức A-di-đà đã là thân dị hóa của Ngài thì đâu có khác chi Ngài, vì thế nên mới nói tức là bổn sư”.</p>



<p>Trong ấy lại nói: “Phổ Hiền Bồ-tát vì Thiện Tài và hải chúng kết khuyến về Cực Lạc bởi ngài Thiện Tài là bậc tin hiểu viên thông, vào trí Văn-thù, tu hạnh Phổ Hiền, phước huệ và sự lý đều xứng hợp Pháp giới. Đó là bậc đại tâm, tuy đã ngộ thể bổn minh, đồng hàng với chư Thánh, nhưng vì lực dụng chưa đầy đủ, không thể nhập thế làm lợi ích khắp quần sinh như các đức Như Lai. Vì thế, Phổ Hiền Bồ-tát khuyên Ngài cho đến hải chúng nương về Tịnh độ, gần gũi Di-đà, không ngoài ý muốn cho tất cả được mau chứng quả Phật”.</p>



<p>*</p>



<p>9. Hỏi: Trong môn Chúng hạnh nói: Nguyện hạnh đã có lớn nhỏ không đồng, lý sự sai biệt thì việc thấy Phật, nghe pháp, cảm thọ y chánh, tất cũng có hơn kém khác nhau; thế thì hai môn Quán tưởng, Ức niệm, nhân tu không đồng, sự cảm tướng có khác nhau chăng?</p>



<p>Đáp: Việc ấy cố nhiên là phải khác. Vì thế, ngài Vĩnh Minh đã bảo: “Sự vãng sinh có chín phẩm, không phải đồng một bậc. Hoặc có kẻ nương về hóa quốc, thấy Ứng thân của Phật; hoặc có vị sinh nơi báo độ, thấy chân thể của Như Lai; hoặc có kẻ trải qua nhiều kiếp mới chứng quả Tiểu thừa, hoặc có vị vừa sinh một đêm liền siêu lên thượng địa. Nói tóm lại, vì người vãng sinh căn hạnh không đồng, có độn căn lợi căn, có định ý, tán ý, nên hoa nở có sớm muộn, quả chứng có chậm mau, thời hạn rất là cách biệt”. Từ Vân Sám Chủ cũng bảo: “Tuy chia ra chín phẩm nhưng đó chỉ là lược phân, nếu tế phân lẽ ưng phải có vô lượng phẩm”.</p>



<p>*</p>



<p>10. Hỏi: Cực Lạc chỉ là cõi Đồng Cư, không phải cõi Thật Báo, tại sao lại nói: “Hoặc có vị sinh nơi báo độ, thấy chân thể của Như Lai?”.</p>



<p>Đáp: Ông cho rằng có cõi Thật Báo ở riêng ngoài cõi Đồng Cư hay sao? Nên biết ba cõi kia không lìa cõi Đồng Cư mà có, chỉ khác là thân, cảnh và sự thọ dụng không đồng nhau thế thôi! Như trong kinh nói: “Thân của Phật A-di-đà cao sáu mươi muôn ức Na-do-tha hằng hà sa Do-tuần”. Các bậc cổ đức bình giải cho đó là thân Thật Báo. Chẳng những thế giới Cực Lạc có bốn độ không đồng, mà các cõi khác cũng đều như vậy. Nên ngài Kinh Khê nói: “Ngay cõi Ta-bà nầy có đủ bốn độ. Như đương thời hải hội Hoa Nghiêm không lìa Thệ Đa Lâm, mà các bậc đại Thanh văn vẫn không nghe thấy và hay biết”.</p>



<p>*</p>



<p>11. Hỏi: Nếu cõi Ta-bà có đủ bốn độ thì chỉ nên ở tại đây mà lần lượt tu hành, cần chi phải cầu sinh Cực Lạc?</p>



<p>Đáp: Cõi nầy tuy đủ bốn độ, nhưng vì thuộc về Đồng Cư Uế Độ, nên người tu khó trừ nghiệp nhiễm. Muốn thoát ly nhiễm nghiệp, hành giả phải cầu sinh về Đồng Cư Tịnh Độ ở Liên Bang. Nên Tứ Minh Tôn Giả nói: “Cõi Ta-bà cảnh duyên trược ác nặng, người tu phải chứng đến vị Thập tín mới thoát khổ luân; miền Cực Lạc cảnh duyên thắng diệu nên khi về, chín phẩm đều lên hàng Bất thối”. Ông há không nghe trong kinh Pháp Hoa nói có những vị thọ giáo với Đại Thông Trí Thắng Như Lai, từ đó đến nay đã trải qua số kiếp như bụi nhỏ của vô lượng vô biên cõi Phật mà còn ở nơi địa vị Thanh văn hay sao? Ấy đều bởi do mãi thối chuyển nên phải trải qua thời kiếp lâu xa. Chẳng hạn như ngài Xá-lợi-phất, tiền kiếp đã chứng đến Lục trụ mà còn thối tâm, huống nữa là hạng tu hành lơ láo ư? Nói chung, ở cõi nầy vì có nhiều chướng duyên, nên người tu dễ bị lui sụt. Nên tiên đức đã bảo: “Số lượng Bồ-tát mới phát tâm nhiều như bông xoài, trứng cá, nhưng kết cuộc còn lại không được bao nhiêu”.</p>



<p>Nếu kẻ nào biết hướng về Cực Lạc, nhờ thắng duyên bên cõi ấy, dù cho hạng phàm phu thấp thỏi, cũng lên ngay ngôi Bất thối. Đây là lý do tất yếu trong sự cầu sinh mà các hành nhơn nên suy gẫm kỹ.</p>



<p>*</p>



<p>12. Hỏi: Trong mười phương, cõi Đồng Cư Tịnh Độ rất nhiều. Nay lại riêng chỉ thế giới Cực Lạc và duy khen cảnh duyên ở cõi ấy thắng diệu là tại sao?</p>



<p>Đáp: Kinh Phật Thuyết A-di-đà nói: “Chúng sinh ở cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên gọi là Cực Lạc”. Cảnh duyên ở Cực Lạc rất thù thắng, có nhiều sự kiện thuận lợi cho chúng sinh nơi cõi nầy hơn các Tịnh độ khác, mà tâm lượng của phàm phu trong Tam giới không thể thấu hiểu được. Nay xin tạm đem cảnh duyên ở Ta-bà đối chiếu để so sánh lược qua:</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, loài người bẩm thọ thân hình huyết nhục, có sinh là có khổ; cõi kia thì chúng hữu tình đều hóa chất nơi hoa sen, không còn sự khổ về sinh.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, thời tiết đổi dời, con người lần lần đi đến cảnh già yếu; cõi kia là thế giới trường xuân, không có đêm, ngày, nóng, lạnh, chúng sinh không bị sự khổ suy già.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, con người thân Tứ đại khó điều hòa, dễ sinh nhiều bệnh hoạn; cõi kia thì chúng sinh thể chất Kim Cương thơm sạch, không có sự khổ về yếu đau.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, con người ít ai sống đến bảy mươi, cơn vô thường mau chóng; cõi kia thì chúng sinh thọ số đến kiếp lượng vô biên, không có sự khổ về chết.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, con người bị sợi dây thân tình ái luyến ràng buộc, chịu đau khổ vì nỗi tử biệt sinh ly; nơi cõi kia chúng sinh hóa thân nơi hoa sen, không có cha mẹ vợ con, nên không bị khổ về ân tình chia cách.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, ai không có kẻ thương người ghét, nên khi oán thù gặp gỡ tất phải chịu nhiều nỗi phiền não gian truân; nơi cõi kia toàn là bậc thiện nhơn dắt dìu giúp đỡ lẫn nhau, không có sự khổ về oan gia hội ngộ.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, con người phần nhiều nghèo khổ thiếu kém, dù kẻ giàu sang cũng có biết bao ước vọng không thành; nơi cõi kia, sự thọ dụng về ăn, mặc, ở, các thứ trân bảo, bao nhiêu điều mong muốn, đều được hóa hiện tự nhiên, chúng sinh an vui, không có nỗi đau buồn về thất vọng.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, con người hoặc hình thể xấu xa, các căn không đủ; cõi kia chúng sinh đều có 32 tướng tốt, thân Kim Cương xinh đẹp, có ánh quang minh.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, chúng sinh xoay vần trong nẻo luân hồi; nơi cõi kia, bậc thượng thiện đều chứng Vô sinh pháp nhẫn.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, có đủ bốn ác thú khổ não; nơi cõi kia, tên ba ác đạo hãy còn không.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy, nhiều gò nổng hang hố, rừng rậm chông gai, dẫy đầy các tướng nhơ ác; nơi cõi kia thì vàng ròng làm đất, cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa đua bốn sắc.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy thì Song Lâm đã khuất, Long Hoa còn xa; nơi cõi kia, Di-đà Thế Tôn hiện đang thuyết pháp.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy thì Quán Âm, Thế Chí luống mến danh lành; nơi cõi kia, chư Bồ-tát thượng nhơn hằng làm thắng hữu.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy thì các ma cùng ngoại đạo làm não loạn bậc chánh tu; nơi cõi kia, Phật hóa tinh thuần, ngoại ma tuyệt tích.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy thì sắc thinh, danh lợi khiến mê hoặc người tu; nơi cõi kia, y chánh sạch nghiêm, không còn duyên nhiễm.</p>



<p>&#8211; Ở cõi nầy thì ác thú, muỗi mòng khiến hành nhơn không yên ổn; nơi cõi kia, nhạc, cây, chim, nước hằng nói pháp âm.</p>



<p>So sánh lược qua hai cõi, cảnh duyên hơn kém thật đã cách xa, nếu nói cho kỹ thì sự ưu liệt làm sao kể xiết! Tuy nhiên, tóm lại phần khái yếu cũng không ngoài hai quan điểm: một là vì cảnh Cực Lạc thù thắng, nên có thể khích phát lòng mong mến và quy hướng của loài hữu tình; hai là duyên Liên Quốc nhiệm mầu nên có thể giúp ích cho người vãng sinh dễ tiến mau trên đường tu chứng. Vì thế, cõi Đồng Cư Tịnh Độ ở mười phương tuy nhiều, song riêng cõi Cực Lạc có đầy đủ thắng duyên, các kinh luận đều chỉ quy, cũng do lẽ đó.</p>



<p>*</p>



<p>13. Hỏi: Trong mười phương có vô số chư Phật, những chúng sinh hữu tâm đều có thể thân cận. Nay lại riêng suy cử đức A-di-đà là tại sao?</p>



<p>Đáp: Trong ấy có ba lý do: vì đức A-di-đà thệ nguyện sâu rộng, vì chúng sinh ở cõi này có nhân duyên lớn với Ngài, và vì sự giáo hóa của hai đức Thế Tôn ở Tây Phương và Đông Độ liên quan nhau.</p>



<p>Về nguyên nhân thứ nhất, như kinh Vô Lượng Thọ nói: “Đức A-di-đà trong thời kỳ tu nhân đã phát nhiều thệ nguyện rộng lớn. Phần khái yếu trong các lời nguyện ấy là: “Khi Tôi thành Phật, nếu có chúng sinh nào muốn sinh về nước Tôi, siêng tu các căn lành và chí tâm xưng danh hiệu Tôi cho đến mười niệm, như kẻ ấy không được vãng sinh thì Tôi thề không thành Chánh Giác. Kẻ nào đã sinh về nước Tôi mà còn bị thối chuyển và không quyết định được thành Phật, Tôi thề không thành Chánh Giác”. Nên trong Hoa Nghiêm Sớ nói: “Phật A-di-đà có lời thề sâu nặng nguyện tiếp dẫn chúng sinh ở cõi Ta-bà”.</p>



<p>Về nguyên nhân thứ hai, khi Phật Thích-ca còn ở đời, chúng sinh nghe lời từ huấn, quy hướng về đức A-di-đà rất nhiều. Từ khi đức Thế Tôn niết-bàn về sau, không luận là hàng Tăng tục, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, kẻ đã nghe Chánh pháp hay chưa biết gì về Phật giáo vẫn thường xưng niệm danh hiệu A-di-đà Phật. Dù cho hạng hung dữ, kẻ không lòng tin, khi gặp cảnh nguy khốn tai nạn, hay lúc vui mừng, thán oán, bất giác cũng kêu gọi A-di-đà Phật. Cho đến trẻ nhỏ khi chơi đùa vẫn thường nắn hình, vẽ tượng Phật A-di-đà; người hát xướng hay đứa hài nhi năm ba tuổi nói năng chưa rành cũng biết niệm A-di-đà Phật. Sự không ai khuyến khích mà vẫn biết niệm ấy không phải do nhân duyên là gì? Lại như trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn đã bảo: “Nay Ta nói kinh nầy khiến cho chúng sinh được thấy Phật Vô Lượng Thọ và quốc độ của Ngài. Những kẻ muốn bước lên đường giải thoát nên cầu vãng sinh. Pháp môn nầy mọi người đều có thể tu, chớ vì Ta diệt độ rồi mà sinh lòng nghi hoặc. Trong đời đương lai, khi Tam tạng giáo điển đã diệt hết, Ta dùng nguyện lực từ bi, duy lưu kinh nầy trụ thế một trăm năm. Những chúng sinh nào có duyên được gặp, tùy ý mong cầu thảy đều đắc độ”. Lại nói: “Sau khi kinh nầy diệt rồi, Phật pháp hoàn toàn mất hẳn trong đời, chỉ còn lưu truyền bốn chữ A-di-đà Phật để cứu độ chúng sinh; kẻ nào không tin mà hủy báng sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu đủ các sự khổ”. Vì lẽ đó, nên ngài Thiên Thai nói: “Phải biết đức Phật kia đối với cõi trược nầy có nhân duyên rất lớn”.</p>



<p>Về nguyên nhân thứ ba thì các vị tiên giác đều bảo: “Đức Thích-ca ứng sinh nơi cõi uế, đem các duyên: nhơ ác, khổ não, vô thường, chướng nạn mà chiết phục chúng sinh, khiến cho họ sinh lòng nhàm chán mà tu theo chánh đạo. Đức Di-đà hiện thân nơi cõi Tịnh, dùng các duyên: trong sạch, an vui, lâu dài, không thối chuyển mà nhiếp hóa loài hữu tình, khiến cho họ khởi tâm ưa mến mà trở lại nguồn chân. Hai bậc Thánh nhơn đã dùng hai môn Chiết và Nhiếp làm cho chánh giáo lưu hành, nên sự hóa độ có liên quan nhau. Lại, đức Bổn sư ngoài sự chỉ dạy ba thừa để giáo hóa chúng sinh, đặc biệt nói thêm môn Niệm Phật để nhờ đức A-di-đà tiếp dẫn những kẻ còn chưa được độ. Vì thế, trong các kinh Đại thừa, đức Thế Tôn đã ân cần dặn bảo, luôn luôn khen ngợi và khuyến khích sự vãng sinh”.</p>



<p>Ba lý do trên đây đã nói rõ tại sao đức A-di-đà được riêng suy cử trong số mười phương chư Phật!</p>



<p>*</p>



<p>14. Hỏi: Về việc duy chỉ cõi Cực Lạc, riêng suy cử đức A-di-đà, cùng những ý nghĩa: chiết, nhiếp, chán, ưa, tôi đã nghe lời diệu chỉ. Nhưng thiết tưởng Chân tâm vẫn bình đẳng trong lành, nếu còn niệm chán ưa tức là còn sự ghét, yêu, lấy, bỏ. Như thế có lỗi hay chăng?</p>



<p>Đáp: Ông chưa hiểu sâu về việc trên nên mới có lời hỏi ấy. Sự chán ưa đó không phải là lòng yêu ghét của thế gian, mà chính là đường lối chung để chuyển phàm thành Thánh của mười phương chư Phật. Nếu không chán bỏ, làm sao chuyển phàm; nếu không có ưa lấy, làm sao thành Thánh?</p>



<p>Cho nên, từ phàm phu đi đến Thánh vị, từ Thánh vị đi đến Đẳng giác, khoảng thời gian tăng tiến đó đều ở trong vòng lấy bỏ chán ưa. Chừng nào hành nhơn đã chứng đến ngôi cực quả là Diệu Giác mới không còn sự lấy bỏ chán ưa, vào thể như như bình đẳng. Vì thế tiên đức đã bảo: “Người tu trước tiên phải có lấy bỏ để đi đến chỗ không lấy bỏ. Khi sự lấy bỏ đã chí cực thì cùng với sự không lấy bỏ vẫn đồng nhau”. Huống chi, pháp môn Tịnh độ vốn do đức Thích-ca và Di-đà kiến lập, một vị khuyến khích cầu sinh, một vị giữ phần tiếp dẫn. Nếu người tu Tịnh nghiệp không có niệm chán bỏ thì làm sao lìa cõi Ta-bà, không có tâm ưa cầu, làm sao sinh về Cực Lạc? Sự sinh về Tịnh độ chẳng qua là mượn thắng duyên bên cõi ấy để mau thành quả Bồ-đề, thì việc lấy bỏ chán ưa đã không có công lớn thì thôi, sao lại cho là có lỗi?</p>



<p>*</p>



<p>15. Hỏi: Thuyết lấy bỏ đã đúng, tôi không còn dám luận bàn. Song việc vãng sinh chẳng biết có trái với lý Vô sinh hay chăng?</p>



<p>Đáp: Ngài Thiên Thai đã bảo: “Người trí sốt sắng cầu sinh Tịnh độ, song hiểu rõ sinh thể vốn không. Đó chính là lý sinh mà vô sinh, và tâm tịnh cõi Phật thanh tịnh. Kẻ ngu bị cái sinh ràng buộc, nghe nói sinh hiểu là thật có sinh, nghe nói vô sinh lại nhận lầm rằng không sinh về đâu cả. Đâu biết sinh tức là vô sinh và vô sinh há lại ngại gì sinh ư?”. Trường Lô thiền sư nói: “Cho sinh là thật có sinh, lạc vào lỗi chấp thường; cho vô sinh là không có sinh, lạc vào lỗi chấp đoạn. Sinh mà không sinh, không sinh mà sinh, mới chính thật Đệ nhất nghĩa đế”. Thiên Y thiền sư cũng bảo: “Sinh thì quyết định sinh, song về vẫn thật không về”. Lý thuyết của ba Đại sư trên, ý nghĩa rất rõ ràng; nay tôi xin đem hai chữ tánh, tướng để giải thích rộng thêm.</p>



<p>Về phần tánh thì Chân tâm mầu lặng, thể nó vốn tự không sinh. Về phần tướng thì khi nhân duyên hòa hợp, trong Chân tâm vẫn hiển hiện ra các tướng sinh diệt. Vì tánh hay hiện tướng, nên nói “vô sinh tức là sinh”, vì tướng do tánh mà hiện, nên gọi “sinh tức là vô sinh”. Hiểu được nghĩa nầy thì sinh về Tịnh độ tức là sinh trong thể duy tâm, sinh mà không sinh, lý đâu có trái!</p>



<p>*</p>



<p>16. Hỏi: Thuyết vãng sinh ý nghĩa đã rõ ràng. Song về việc đó, hàng học giả đời nay trong ngàn muôn người, mấy ai được thông hiểu? Vì thế họ đều nghi rằng miền Cực Lạc cách đây mười muôn ức cõi, lộ trình đã xa vợi, khi mạng chung làm sao có thể đến nơi? Chẳng biết Đại sư có phương sách gì để thuyết minh việc ấy chăng?</p>



<p>Đáp: Mối nghi ấy thật đã vớ vẩn! Tôi đã nhiều lần nói ngoài tâm không độ, ngoài độ không tâm, mà ông còn chưa hiểu sao? Song việc ấy không chi khác, chỉ vì nhiều người đã nhận lầm rằng tâm mình thuộc vào phạm vi nhỏ hẹp ở trong sắc thân. Họ đâu ngờ đó chỉ là vọng thức. Mà thật ra, Chân tâm của mỗi người rộng rãi vô biên, bao trùm sa giới, đầy khắp thái hư. Cho nên, mười phương hư không vô tận vô cùng, hằng sa thế giới vô biên vô số, đều bị tâm lượng của ta bao trùm và đầy khắp tất cả. Xem thế thì biết, mười muôn ức cõi chỉ ở trong tâm ta, kỳ thực rất gần, có chi là xa? Và khi mạng chung được vãng sinh, cũng chỉ sinh ở trong tâm ta, kỳ thực rất dễ, có chi là khó? Thập Nghi Luận nói: “Mười muôn ức cõi là đối với tâm lượng của hạng nhục nhãn phàm phu ở trong nẻo luân hồi mà nói đó thôi. Nếu đối với chúng sinh Tịnh nghiệp thành tựu thì tâm ở trong định khi lâm chung chính là tâm thọ sinh về Tịnh độ, vừa động niệm liền được vãng sinh”. Vì thế, trong Quán Kinh nói: “Cõi nước của Phật A-di-đà cách đây không xa”. Lại nghiệp lực không thể nghĩ bàn, trong một niệm liền được sinh về cõi Phật, không cần phải lo đường lối xa xôi. Ví như người nằm mơ, thân tuy ở nơi giường mà tâm đi khắp các nơi xa lạ như lúc còn thức. Sự sinh về Tịnh độ đại để cũng như vậy.</p>



<p>Các kinh có chỗ nói trong khoảng khảy móng tay liền được vãng sinh. Có chỗ nói khoảng co duỗi cánh tay, hoặc nói trong khoảnh khắc, nên Tự Tín Lục đã bảo: “Trong khoảnh khắc liền vượt qua mười muôn ức cõi vì tự tâm vốn nhiệm mầu”. Những điểm thí dụ trên đại ý chỉ cho: vì sinh trong Chân tâm rộng lớn của mình nên rất dễ và rất gần đó thôi. Hãy gác qua việc Chân tâm rộng, nay tôi chỉ căn cứ nơi tâm lượng phàm phu nhỏ hẹp của ông, lập ra một thí dụ cho dễ hiểu: Ví như từ đây sang xứ Tây Thiên Trúc, lộ trình trải qua nhiều nước và xa hơn mười muôn dặm. Có người tuy chưa đi đến Tây Thiên, nhưng nghe kẻ khác đã đi rồi trở về thuật lại rành rẽ, để ý ghi nhớ kỹ nơi lòng. Về sau người ấy trong khi ngồi nằm, bỗng động niệm nhớ lại việc trước, suy nghĩ trải qua ngàn dặm đến nước nào, muôn dặm đến nước nào, và kết cuộc đến xứ Thiên Trúc ra làm sao; liền thấy hiện ra cảnh giới của mỗi giai đoạn, lúc nghĩ tới đâu như thấy mình thân hành đến ngay nước đó. Sự vãng sinh về Cực Lạc cũng không ngoài đạo lý ấy, trong khoảng khảy móng tay hoặc trong một niệm liền đi đến, có chi là khó khăn ư? Nếu ông không tu Tịnh độ mà muốn đến Cực Lạc, cố nhiên là khó; như Tịnh nghiệp của ông thành tựu thì sự đi đến rất dễ dàng. Chỉ cần quyết tâm là sẽ được mãn nguyện, Phật, Thánh không khi nào có lời nói dối đâu!</p>



<p>*</p>



<p>17. Hỏi: Không tu Tịnh nghiệp tất khó vãng sinh, đó là điều chắc chắn. Nhưng tại sao hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung cũng có thể vãng sinh? Điểm ấy tôi còn chưa hiểu và có chỗ nghi ngờ, mong Đại sư chỉ dạy rành rẽ?</p>



<p>Đáp: Trong Quán Kinh đã dạy: “Hạ phẩm Hạ sinh là như có người tạo tội Ngũ nghịch, Thập ác làm đủ các việc không lành, do vì ác nghiệp, nên đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo, trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng! Nhưng khi lâm chung, kẻ ấy được gặp thiện tri thức an ủi và thuyết pháp cho nghe, khuyên phải nhớ tưởng đến Phật. Song đương nhơn vì bị sự khổ bức bách nên không nhớ tưởng được. Thiện hữu lại bảo: “Nếu ông không thể nhớ Phật thì hãy chí tâm xưng Nam mô A-di-đà Phật âm thanh liên tiếp nhau cho đủ mười niệm”. Người ngu ác kia vâng lời hết lòng xưng danh, nên trong mỗi niệm diệt được tội nặng nơi đường sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Khi người ấy niệm Phật, bỗng thấy hoa sen vàng chói sáng như vầng nhựt hiện ra ở trước, trong khoảng một niệm, đương nhiên liền được sinh về thế giới Cực Lạc và kế tiếp đó phải ở trong hoa sen mãn mười hai đại kiếp. Khi hoa sen nở ra, kẻ ấy thấy đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí dùng tiếng Đại Bi vì mình nói Thật tướng của các pháp và cách trừ diệt tội chướng. Đương nhơn nghe pháp rồi tự nhiên vui vẻ, phát tâm Vô Thượng Bồ-đề”.</p>



<p>Đoạn kinh trên chỉ rõ cảnh tướng của bậc Hạ phẩm Hạ sinh. Mười hai đại kiếp ở trong hoa sen, tuy thời gian có lâu xa, nhưng người vãng sinh thấy mình ở trong một bầu thế giới riêng biệt, hưởng thọ sự vui như chư thiên nơi cung trời Đao-lợi. Vì thế, cổ đức đã bảo:</p>



<p>“Trong hoa vui vẻ như Đao-lợi</p>



<p>Khác hẳn thai phàm của thế gian”.</p>



<p>Theo Quán Kinh Sớ thì người nghịch ác mà được vãng sinh là do khi lâm chung, kẻ ấy chí tâm niệm Phật nên tội chướng được tiêu trừ. Thế thì ý của Sớ Văn cho sự niệm Phật là thắng duyên vãng sinh. Riêng tôi, sau khi tham khảo các kinh luận và sớ giải về Tịnh độ, lại ước kết trong ba nghĩa:</p>



<p>* Điều thứ nhất, hành nhơn chỉ niệm Phật trong thời gian ngắn ngủi mà có thể thắng nổi nghiệp ác trọn đời là do nhờ tâm lực rất mạnh mẽ, ý chí cực quyết định; đó gọi là đại tâm. Tình cảnh ấy ví như người bị quân giặc vây khổn, đang lúc nguy cấp, do liều chết không kể đến thân mạng nên phát được sức dũng mãnh cùng cực, xông phá vượt ra khỏi trùng vi.</p>



<p>* Điều thứ hai, kẻ ấy tuy tạo ác, song hoặc hiện đời đã có tu Tam-muội nên khi lâm chung nghe người nhắc bảo, định lực được dễ thành. Đây cũng thuộc về hạng người mà trong nhà Phật gọi là “thừa cấp giới huỡn”. Nếu đương nhơn hiện đời không tu Tam-muội, tất đời trước cũng đã có huân tu. Hạt giống lành ấy nay đã đến thời kỳ thuần thục nên khi lâm chung gặp thiện tri thức khuyên bảo, kẻ đó nương nơi túc thiện nghiệp, trong mười niệm mà được thành công.</p>



<p>* Điều thứ ba, nếu không phải do công tu trong hiện đời hay nghiệp lành về kiếp trước, tất khi lâm chung kẻ ấy đã niệm Phật với lòng sám hối tha thiết cùng cực. Nên ngài Vĩnh Minh nói: “Vì thể nhân duyên vốn không nên nghiệp thiện ác chẳng định; muốn rõ đường siêu đọa, phải nhìn nơi tâm niệm kém hơn. Cho nên, một lượng vàng ròng thắng nổi bông gòn trăm lượng, chút lửa le lói đốt tiêu rơm cỏ muôn trùng”.</p>



<p>Một trong ba nhơn duyên trên cộng thêm công đức của Phật hiệu, nguyện lực của Di-đà, nên khi lâm chung kẻ nghịch ác mới thắng được tội khiên, sinh về Cực Lạc.</p>



<p>*</p>



<p>18. Hỏi: Sống trong đời ác năm trược, mỗi người đều có tội; giả sử không tạo tội nặng Ngũ nghịch thì cũng vương vào các lỗi khác. Nếu có người không sám hối, hoặc sám hối mà tội chưa tiêu diệt hết, khi bình thời và lúc lâm chung đều chí tâm niệm Phật thì có được vãng sinh hay chăng?</p>



<p>Đáp: Những kẻ hành trì như thế đều được vãng sinh, do nhờ sức đại nguyện không thể nghĩ bàn của đức A-di-đà. Kinh Na-tiên nói: “Như đem tảng đá thật to để trên thuyền, do nhờ sức thuyền nên đá không bị chìm và được chuyển sang bờ bên kia. Nếu không có thuyền thì dù đem hạt cát để xuống nước, hạt cát ấy cũng vẫn bị chìm”. Tảng đá to dụ cho người nghiệp nặng, hạt cát dụ cho người nghiệp nhẹ, chiếc thuyền dụ cho nguyện lực của Phật. Người dù nghiệp nặng bao nhiêu mà biết ăn năn chí tâm niệm Phật thì cũng được Phật tiếp dẫn, ví như tảng đá to được thuyền chở qua bờ bên kia. Kẻ nghiệp tuy nhẹ mà không niệm Phật, khi mạng chung sẽ tùy nghiệp chịu khổ luân hồi, ví như hạt cát bị chìm, bởi không thuyền chuyên chở. Cho nên, trong nhà Phật có thuyết “đới nghiệp vãng sinh” là còn mang nghiệp mà được sinh về Tây Phương, chính ý nghĩa đó. Trong Tịnh Độ Văn, đoạn nói về bốn cõi cũng bảo: “Người còn đủ hoặc nhiễm vẫn được sinh về Đồng Cư Tịnh Độ”. Như Hùng Tuấn, Trương Chung Quỳ và một người ở Phần Châu đều lấy nghiệp đồ sát làm nghề sinh sống; khi lâm chung, cả ba người kẻ thì thấy bầy trâu ồ ạt kéo đến muốn chém, kẻ lại thấy thần nhơn đuổi bầy gà đến mổ khắp cả mình và đôi mắt, làm cho máu chảy ướt giường. Nhưng nhờ chí tâm niệm Phật, nên cả ba đều thoát khỏi nghiệp Nê-lê (địa ngục), được sinh về Cực Lạc. Sự tích nầy có chép rõ trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Những việc trên đây không phải bằng chứng của Phật lực là gì?</p>



<p>Xin đem một thí dụ nữa để nói rõ: Như có người phạm pháp quan đáng lẽ phải bị tù ngục, nhưng kẻ ấy biết cầu cứu với vua, nhờ che chở cho để chờ lúc lập công; do vua tuyên triệu nên quan không thể gia hình. Đương nhơn nhờ đó mà đi thẳng đến đế kinh, không ai cầm bắt được. Cho nên, bộ Tây Tư Sao nói: “Chúng sinh được về Tịnh độ là do nhờ đức Thích-ca chỉ đường, Phật A-di-đà tiếp dẫn và chư Phật mười phương đều hộ niệm. Như người qua biển cả, đã được thuyền to, lại nhờ tay lương đạo, thêm vào đó sức gió thuận, nên có thể mau đến bờ bên kia. Nếu còn không chịu bước lên thuyền, lưu liên nơi miền ác địa, đó là lỗi của ai ư?”.</p>



<p>*</p>



<p>19. Hỏi: Trước đã nói: “Hàng phàm phu cũng được lên ngôi Bất thối”. Theo thiển ý, ngôi Bất thối là để cho hạng người không ác nghiệp. Nay những kẻ đới nghiệp vãng sinh mà cũng được Bất thối ư?</p>



<p>Đáp: Chỉ được vãng sinh là đều lên hàng Bất thối chuyển. Kinh nói: “Những kẻ sinh về, đều trụ nơi Chánh định tụ”. Lại nói: “Ở cõi Cực Lạc, chúng sinh nào sinh về đó đều là bậc A-bệ-bạt-trí”. Thập Nghi Luận nói: “Có năm nhân duyên khiến cho người vãng sinh không thối chuyển:</p>



<p>1. Do nguyện lực đại bi của Phật nhiếp trì</p>



<p>2. Ánh sáng của Phật thường soi đến thân, nên lòng Bồ-đề của chư thiện nhơn luôn luôn tăng tiến.</p>



<p>3. Chim, nước, rừng cây, gió, âm nhạc thường phát ra tiếng pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã. Hành giả nghe rồi sinh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.</p>



<p>4. Chúng sinh được sinh về Cực Lạc thì bạn lành toàn là bậc Bồ-tát thượng thiện, tuyệt tất cả chướng nạn, ác duyên, lại không<br>ngoại đạo, tà ma nên tâm thường an tịnh.</p>



<p>5. Đã được sinh về cõi ấy thì thọ lượng vô cùng, đồng với Phật và Bồ-tát, an nhiên tu tập trải qua vô biên A-tăng-kỳ kiếp”.</p>



<p>Cổ đức cũng bảo: “Không nguyện sinh Tịnh độ thì thôi, có thật nguyện tất đều được vãng sinh. Không sinh Tịnh độ thì thôi, đã vãng sinh tất đều được Bất thối chuyển”.</p>



<p>*</p>



<p>20. Hỏi: Kẻ một đời tạo ác, khi lâm chung duy niệm Phật, đã được đới nghiệp vãng sinh, lại còn không thối chuyển; nguyện lực của đức A-di-đà thâm diệu, thật không thể nghĩ bàn! Vậy thì bây giờ tôi tạo tác theo duyên đời, đợi khi sắp chết rồi sẽ niệm Phật có được chăng?</p>



<p>Đáp: Khổ thay! Lời ấy rất ngu muội sai lầm, còn nguy hiểm hơn thứ rượu độc, đã hại mình lại làm hại lây đến hàng Tăng ni, người, thiện tín trong đời nữa! Sở dĩ hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung biết niệm Phật, là do từ trước họ đã có căn lành, phước đức, nhân duyên, nên mới được gặp thiện tri thức, mới khởi lòng tin tưởng và phụng hành. Đó là việc cầu may trong muôn một, đâu phải mỗi người đều được như thế? Luận Quần Nghi nói: “Trong đời có mười hạng người khi lâm chung không niệm Phật được:</p>



<p>1. Không gặp bạn lành, nên chẳng ai khuyên niệm.</p>



<p>2. Nghiệp khổ bức thiết, không yên ổn rỗi rảnh để niệm Phật.</p>



<p>3. Trúng phong cứng họng, không thể xưng danh Phật.</p>



<p>4. Cuồng loạn mất trí, không thể chú tâm tưởng niệm.</p>



<p>5. Thoạt gặp tai nạn nước lửa, mất sự điềm tĩnh chí thành.</p>



<p>6. Bỗng gặp cọp beo ác thú làm hại.&nbsp;</p>



<p>7. Khi lâm chung bị bạn ác phá hoại<br>lòng tin.</p>



<p>8. Gặp bạo bệnh hôn mê bất tỉnh mà qua đời.</p>



<p>9. Bị trúng thương thoạt chết giữa quân trận.</p>



<p>10. Từ trên cao té xuống mà mạng vong”.</p>



<p>Mười sự kiện trên đây là những việc thường nghe thấy, không luận Tăng tục, nam nữ, hạng nào cũng có thể bị vướng vào. Đó là do túc nghiệp hoặc hiện nghiệp chiêu cảm nên sự việc bỗng nhiên xảy ra, không còn trốn tránh kịp. Ông đã không phải là bậc Thánh nhơn chứng Túc mạng thông, biết được khi lâm chung có nghiệp hay không nghiệp, lại chẳng phải là bậc đủ Tha tâm, Thiên nhãn, biết mình khi mạng chung chết tốt hoặc xấu, mà bình thời không niệm Phật, đến khi lâm chung nếu rủi mắc phải một trong mười duyên ác đó, thì sẽ liệu ra sao? Chừng ấy, dù có Phật sống hay bao nhiêu thiện tri thức đứng vây quanh cũng không làm thế nào cứu được, và thần thức ông sẽ tùy theo nghiệp đi vào chốn Tam đồ, Bát nạn, nhiều kiếp chịu khổ, biết có còn được nghe danh hiệu của Phật như ngày nay chăng?</p>



<p>Giả sử ông không bị những ác duyên đó, chỉ bệnh sơ sài rồi mãn phần, thì lúc sắp chết bốn đại phân ly, gân xương rút chuyển, thân tâm đau đớn kinh hoàng như con đồi mồi bị lột vảy, con cua rớt vào nước sôi, làm sao mà niệm Phật? Dù cho ông không bệnh mà chết một cách yên ổn nữa, khi lâm chung hoặc e duyên đời chưa dứt, niệm tục còn vương, nỗi tham sống sợ chết làm cho tâm ý rối loạn, phân vân cũng không niệm Phật được. Nếu là người tục thì lại thêm gia vụ chưa xong xuôi, việc sau chưa sắp đặt, vợ kêu, con khóc, trăm mối ưu tư cũng không rỗi rảnh để niệm Phật. Chẳng đợi lúc lâm chung, giả sử trước khi ông chưa chết mà có chút bệnh nơi thân, phải gắng chịu sự đau khổ, rên rỉ không yên, tìm thuốc, hỏi thầy, nhờ người cầu an sám hối, tạp niệm rối ren, chưa dễ nhiếp tâm niệm Phật. Dù lúc ông chưa có bệnh thì bị tuổi cao sức yếu, đủ sự kém suy, áo não buồn than, chỉ lo sự việc trên cái thân già còn chưa xong, chắc chi đã niệm Phật? Ví như lúc ông chưa già, thân lực đang cường tráng mà còn đeo việc thế, chưa dứt niệm đời, bôn tẩu Đông Tây, âu lo đủ việc, biển thức mênh mang, làm sao có thể niệm Phật? Dù ông được muôn duyên rỗi rảnh, có chí tu hành, nhưng đối với tướng thế gian, nếu nhìn không thấu, nắm không vững, dứt không xong, khi xúc đối với ngoại duyên không thể tự chủ, tâm tùy theo cảnh mà điên đảo làm sao yên chí để niệm Phật?</p>



<p>Ông thử nghĩ xem, chỉ khi già, bệnh, cho đến thuở mạnh khỏe an nhàn nếu còn một việc đeo đẳng nơi lòng cũng không thể chánh tâm niệm Phật, huống nữa là đợi đến lúc lâm chung ư? Phương chi, ông lại còn nói tạo tác theo duyên đời, đó phải chăng là lời si mê, là chỗ dụng tâm rất nên lầm lỗi? Vả sự nghiệp thế gian, như giấc mơ, trò huyễn, như bóng bọt, tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi không, nó có lợi ích chi thiết thực cho ông trên đường giải thoát? Dù cho ông có tạo được chùa chiền quy mô rộng lớn, gây nên thanh thế địa vị cao tôn, kết thân với nhiều kẻ quyền chức sang giàu, trong tâm tự hào cho đó là đã thành công nơi đường tu, đâu ngờ thật ra chính lại phạm nhằm điều răn của Tiên Thánh! Bởi cổ đức từng khuyến giới rằng: “Người xuất gia phải chí thú nơi sự giải thoát, đừng quá đua theo công nghiệp hữu vi, vì trong ấy có nhiều lầm lỗi, e cho thiên đường chưa thấy, địa ngục đã trước! Nếu việc sống chết chưa xong thì tất cả công nghiệp hữu vi đều là nguyên nhân của sự khổ. Một mai nhắm mắt đi rồi, tùy theo nghiệp mà thọ báo, chừng ấy mới hay việc đã làm là trên gông cùm thêm xiềng xích, dưới vạc nóng thêm củi than, mảnh pháp y đã mất nơi thân, nẻo dị loại đổi hình muôn kiếp!”.</p>



<p>Qua mấy lời trên, nếu người có chí giải thoát, biết cảm thương thân thế của mình, phải nên động lòng rơi lệ! Tổ sư đã tha thiết khuyên răn như thế, đâu có hứa cho ông tạo tác duyên đời, rồi đợi khi lâm chung mới niệm Phật ư?</p>



<p>Ông há không thấy Tử Tâm thiền sư bảo: “Trong đời, những người tiền của như núi, thê thiếp đầy nhà, đâu phải họ không muốn trẻ mãi để ngày đêm hưởng phước báo thế gian? Nhưng vì kiếp sinh có hạn, tháng năm thúc giục tuổi già, cái chết há thiên vị kẻ giàu sang, sức nghiệp đâu nể kiêng người tài trí? Chừng ấy, tội hành nghiệp cảm, còn chi là thói phong lưu; kiếp trả đền vay, luống hối cho đời phóng đãng! Những việc vừa nói, thế nhân hầu hết mắt đã từng thấy và tai cũng đã từng nghe. Người đời thường lần lựa chờ khi lớn tuổi, việc nhà xong xuôi rồi sẽ niệm Phật, nhưng cái chết đâu có hẹn trẻ hay già, và tuy nói như thế, đã mấy ai tuổi cao mà biết lo niệm Phật? Cổ nhơn bảo: “Chớ đợi đến già rồi niệm Phật. Đồng hoang mồ trẻ đã nhiều đây!”. Lại nói: “Con người từ lúc còn trẻ, có gia đình rồi đến nuôi con cái, trong cuộc sinh sống phải chịu biết bao là nỗi khổ nhọc đắng cay! Khi hơi thở đã tàn thì gia đình, tiền của, tất cả đều bỏ lại hết, chỉ theo nghiệp mà đi. Nếu là con có nghĩa thì nó khóc cho ít tiếng, đốt cho mấy xấp giấy tiền, rước thầy tụng cho năm ba bộ kinh, rồi đến ngày lại sắm cơm canh cúng quải; đó gọi là còn biết tưởng nhớ đến mẹ cha. Rủi gặp con bất hiếu thì cha mẹ vừa nhắm mắt, đầu xương chưa lạnh, nó đã lo tranh nhà giành đất, cãi cọ kiện thưa, khi được phần rồi lại phung phí ăn chơi, thậm chí lãng quên ngày cúng giỗ. Việc đời kết cuộc bất quá chỉ như thế, có điều chi đáng hẹn chờ! Cho nên, bậc hiểu rộng thấy xa, phải sớm niệm Phật tu hành, con cháu mỗi người tự có phước riêng, kẻ làm cha mẹ chỉ lo bổn phận phần nào mà thôi, chớ vì nó suốt đời làm thân trâu ngựa!”. Xin dẫn thêm ra đây mấy lời của cổ đức:</p>



<p>“Cười thương kẻ giàu sang</p>



<p>Lo giàu thêm rộn ràng!</p>



<p>Hũ gạo sinh sâu mọt</p>



<p>Kho tiền đầy ngổn ngang.</p>



<p>Ngày cầm cân suy nghĩ.</p>



<p>Đêm đốt đuốc tính toan</p>



<p>Hình hài trơ lẩn thẩn</p>



<p>Tâm trí rối bàng hoàng.</p>



<p>Vô thường khi chợt đến.</p>



<p>Biển nghiệp sóng mênh mang!”.</p>



<p>Ngài Tử Tâm đã tha thiết nhắc khuyên như thế, đâu có hứa cho ông tạo tác duyên đời rồi đợi đến khi lâm chung mới niệm Phật ư?</p>



<p>Cho nên, ông phải xét nghĩ kiếp người mong manh ngắn ngủi như lửa nháng thân đá, như chớp giật lưng trời, mới còn đó đã mất đi, có chi là trường cửu? Phải nhận định cho chắc, rồi thừa lúc chưa già chưa bệnh, gác qua thế sự, rũ sạch thân tâm, được một ngày quang âm lo một ngày niệm Phật, được một khắc rỗi rảnh tu một khắc công phu, đến lúc lâm chung mọi việc đã an bài, trời Tây cũng sẵn mở lối đường quang đãng! Bằng chẳng thế, khi duyên nghiệp đáo đầu, chừng ấy ăn năn đã muộn! Nên suy nghĩ kỹ!</p>



<p>*</p>



<p>21. Hỏi: Lời ngu giả đã thành lỗi lầm, dù có dong xe bốn ngựa cũng không thể vớt lại kịp! Nghe qua mấy điều Đại sư chỉ dạy, ai lại chẳng lạnh lòng! Hiềm vì nỗi lòng người tuy dễ tinh tiến song cũng dễ thối lui, khi nghe lời khuyên nhắc thì dõng mãnh siêng năng, lúc gặp việc chi chướng ngại lại giải đãi thối lui ngả theo hướng khác. Phần đông đều bảo: kết quả của sự niệm Phật có lẽ đợi sau khi chết rồi; còn hiện tại chỉ thấy nhọc nhằn mà không lợi ích chi thiết thực cả. Phải chăng đó cũng là duyên cớ thích đáng trong sự thối tâm biếng trễ của người tu?</p>



<p>Đáp: Chỗ thấy của ông chưa được rộng. Trong kinh nói: “Người nào chí tâm thọ trì danh hiệu Phật, hiện đời sẽ được mười điều thắng lợi:</p>



<p>1. Ngày đêm thường được tất cả chư Thiên, đại lực thần tướng và hằng sa quyến thuộc ẩn hình ủng hộ.</p>



<p>2. Thường được hai mươi lăm vị Đại Bồ-tát như đức Quán Thế Âm và tất cả Bồ-tát theo thủ hộ bên mình.</p>



<p>3. Hằng được chư Phật ngày đêm hộ niệm; đức A-di-đà thường phóng ánh sáng nhiếp thọ người ấy.</p>



<p>4. Tất cả ác quỷ như Dạ-xoa, La-sát đều không thể làm hại. Tất cả rồng độc, rắn độc và thuốc độc đều không thể xâm phạm.</p>



<p>5. Không bị những tai nạn như: nước trôi, lửa cháy, giặc oán, đao tên, gông xiềng, tù ngục, hoạch tử.</p>



<p>6. Những nghiệp ác về trước lần lượt tiêu diệt. Những oan mạng bị đương nhơn giết, nhờ công đức niệm Phật, đều được giải thoát, không còn theo báo phục.</p>



<p>7. Đêm nằm nghỉ yên ổn, hoặc mơ thấy<br>điềm lành hay thấy sắc thân thắng diệu của Phật A-di-đà.</p>



<p>8. Tâm thường an vui, nhan sắc sáng nhuận khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp.</p>



<p>9. Thường được mọi người kính trọng giúp đỡ, hoặc hoan hỷ lễ bái cũng như kỉnh Phật.</p>



<p>10. Khi lâm chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện ra, được thấy Phật A-di-đà và các Thánh chúng tay bưng đài vàng tiếp dẫn vãng sinh về Cực Lạc, cùng tận kiếp vị lai hưởng thọ sự vui nhiệm mầu”.</p>



<p>Mười điều lợi ích như trên chính do kim khẩu nói ra, mà kinh văn đã ghi chép lại. Niệm Phật đã có lợi ích trong hiện tại và tương lai như vậy thì đó chính là pháp khẩn yếu trong các môn thế và xuất thế gian. Cho nên, người tu chỉ gắng tinh tấn, đừng mang tâm niệm hoài nghi.</p>



<p>*</p>



<p>22. Hỏi: Về môn niệm Phật, nhờ ơn nhiều phen chỉ dạy, nên các mối nghi đã tiêu tan, và lòng chánh tín cũng đã khai phát. Nhưng trước đã nói: “Gác qua thế sự, rũ sạch thân tâm”, mà người đời hoàn cảnh đều khác nhau; kẻ được rảnh rỗi thuận duyên thì có thể tuân hành, người bị trăm việc buộc ràng phải làm sao để tu tập?</p>



<p>Đáp: Nếu người tu biết thống cảm cảnh vô thường và thiết tha vì sự giải thoát, thì dù gặp duyên thuận nghịch, khổ vui, động tịnh, gấp huỡn, hoặc khi tiếp tân đãi khách, lo việc công tư, đối xử muôn duyên, ứng thù tám mặt, cũng không ngại gì đến sự niệm Phật. Cổ nhơn đã bảo:</p>



<p>“Non cao khó đón đường mây bạc.</p>



<p>Trúc rậm khôn ngăn ngọn suốt trong!”.</p>



<p>Lại nói:</p>



<p>“Mai lại A-di-đà</p>



<p>Chiều cũng A-di-đà</p>



<p>Dù gấp như tên bắn</p>



<p>Không rời A-di-đà”.</p>



<p>Cho nên, muôn cảnh vẫn nhàn, tự mình náo động, nếu người thiết thực cầu về Cực Lạc và biết cách dụng tâm thì không có duyên nào làm trở ngại được sự tu niệm cả.</p>



<p>Tuy nhiên, những kẻ năng lực kém yếu, việc đời bận nhiều, phải nên trong gấp cố tìm chút thời giờ rảnh, trong động gắng giữ niệm lắng yên, rồi tùy sức niệm Phật hoặc nhiều hoặc ít. Mỗi ngày nên định khóa hoặc ba muôn hay một muôn câu, ba ngàn hay một ngàn câu, và giữ mực thường hằng, đừng cho gián đoạn. Nếu vị nào duyên sự quá nhiều, ít có giây phút rỗi rảnh, thì mỗi buổi sớm mai tu theo pháp Thập niệm hồi hướng, cứ giữ như thế suốt đời, cũng được nhờ ơn tiếp dẫn. Người có thì giờ hay phương tiện, ngoài thời niệm Phật hoặc trì chú tụng kinh, hoặc sám hối bố thí, tùy phần tùy lực mà tu các phước lành, dù có mảy may công đức, cũng đem hồi hướng Tây Phương. Dụng công như thế, chẳng những quyết định được vãng sinh mà<br>cũng sẽ tăng cao thêm phẩm vị.</p>



<p>*</p>



<p>23. Hỏi: Từ trước đến nay, kẻ hậu tiến nầy chỉ nghe nói nhiều về niệm Phật mà chưa hiểu rõ phương châm; và pháp Thập niệm hồi hướng thế nào, riêng lòng cũng chưa được tường tất. Xin nhờ Đại sư chỉ thị?</p>



<p>Đáp: Niệm Phật là duyên tưởng theo ba mươi hai tướng, buộc tâm vào định, làm sao cho khi mở mắt hay nhắm mắt thường được thấy Phật. Hoặc phương pháp nữa là chuyên xưng danh hiệu, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong đời nầy cũng được thấy Phật. Hiện nay, tôi thấy phần đông người tu Tịnh độ đều lấy pháp Trì danh làm thắng. Phép xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam mô A-di-đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau. Niệm như thế, mới có thể mỗi câu diệt được tội nặng nơi đường sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ.</p>



<p>Còn về pháp Thập niệm thì mỗi buổi sớm mai, hành giả phải quỳ trước bàn Phật, hoặc chắp tay đứng ngay thẳng hướng về phương Tây, niệm Phật liên tiếp, luôn một hơi, cứ mỗi hơi kể một niệm, mười hơi là mười niệm. Khi niệm không hạn số câu ít hay nhiều, chỉ tùy theo hơi dài ngắn, chuyên chú niệm luôn cho hết hơi mới thôi. Nên giữ tiếng niệm Phật cho rành rẽ, không thấp không cao, không gấp không huỡn, niệm mười hơi liên tiếp, chớ để tâm ý tán loạn. Đây là pháp mượn hơi nhiếp tâm, quý ở nơi chuyên nhất, và phải giữ như thế trọn đời, không được một ngày tạm bỏ.</p>



<p>Về phần hồi hướng là sau khi niệm xong, dùng tâm chí thành nguyện rằng:</p>



<p>“Con là:…… (pháp danh:……)</p>



<p>Phát lòng Bồ-đề,</p>



<p>Một lòng quy mạng</p>



<p>Đức A-di-đà,</p>



<p>Nguyện về Cực Lạc.</p>



<p>Xưa Phật lập thệ:</p>



<p>“Nếu chúng sinh nào,</p>



<p>Muốn về nước Ta</p>



<p>Hết lòng xưng danh</p>



<p>Cho đến mười niệm</p>



<p>Như không được sinh</p>



<p>Ta không thành Phật”.</p>



<p>Con nguyện nương nhờ</p>



<p>Từ lực của Phật</p>



<p>Tội diệt phước sinh.</p>



<p>Con nguyện lâm chung</p>



<p>Biết ngày giờ trước</p>



<p>Dứt trừ chướng ngại.</p>



<p>Phật cùng Thánh chúng</p>



<p>Tiếp dẫn vãng sinh</p>



<p>Mau ngộ Phật thừa,</p>



<p>Độ khắp muôn loại”.</p>



<p>Môn Thập niệm hồi hướng trên đây là phương pháp rất thiết yếu của tiên đức đã chỉ dạy. Môn nầy rất được thạnh truyền và có lợi ích cho đời, người niệm Phật nên tuân hành.</p>



<p>*</p>



<p>24. Hỏi: Đối với người ở trong lưới tục, cổ đức đã tùy lượng mà chỉ dạy phương pháp rất cặn kẽ, rõ ràng. Nhưng với chúng tôi là hạng người thế ngoại, lại phải làm sao để dụng công?</p>



<p>Đáp: Trước tôi đã nói pháp tu có nhiều loại tổng nhiếp thành ba môn. Trong ba môn ấy, mỗi người tùy ý mình lựa chọn hoặc chuyên tu hay kiêm tu, chỉ yếu tâm chân thiết và giữ cho bền lâu, tự sẽ có kết quả.</p>



<p>*</p>



<p>25. Hỏi: Phương tu viên quán, pháp niệm duy tâm, dường như hành môn của bậc thượng khí. Còn mười nguyện trong kinh Hoa Nghiêm, mười tâm trong kinh Bảo Tích cũng là dụng công của hạng lợi căn. Nếu như căn khí không xứng hợp, e cho công hạnh khó thành! Nay tôi tự xét căn tánh và sở thích của mình thì chỉ nên chuyên trì danh hiệu, nếu rảnh thì thêm lễ Phật sám hối mà thôi. Ý Đại sư như thế nào?</p>



<p>Đáp: Lành thay! Ông biết tự lượng đó! Xét qua lời ông nói thật rất hợp với thuyết Chuyên Tu Vô Gián của Thiện Đạo đại sư. Thuyết ấy đại khái như sau:</p>



<p>Chuyên Tu là do chúng sinh phần nhiều chướng nặng, tâm tưởng thô phù, ý thức rối loạn, mà quán cảnh lại quá tinh tế nên công hạnh khó thành. Do đó nên đấng Đại Thánh xót thương, bảo chuyên xưng ngay danh hiệu; vì xưng danh rất dễ, nếu giữ mỗi niệm tương tục liền được vãng sinh. Kẻ nào suốt đời hành trì như thế thì mười tu mười người về, trăm tu trăm người về. Bởi tại sao? Vì không tạp duyên nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bổn nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái giáo pháp. Vì thuận theo lời Phật dạy. Nếu bỏ chuyên tu mà hành theo tạp hạnh để cầu sinh thì trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba, bốn. Sở dĩ như thế, vì bởi tạp duyên loạn động làm mất chánh niệm. Vì trái bổn nguyện của Phật. Vì trái giáo pháp. Vì không thuận theo lời Phật dạy. Vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau. Vì không tương tục để báo ân Phật. Vì tuy có hạnh lành mà tương ưng với danh lợi. Vì ưa theo tạp duyên mà làm chướng sự sinh Tịnh độ cho mình và người.</p>



<p>Vô Gián Tu là thân chuyên lễ Phật A-di-đà, không lễ vị Thánh nào khác; miệng chuyên xưng danh Phật A-di-đà, không trì tụng các kinh và xưng danh hiệu khác; ý chuyên tưởng Phật A-di-đà, không xen tạp các tưởng niệm khác. Lại khi những nghiệp tham, sân, si, nổi lên làm cho công tu gián đoạn, phải tùy phạm tùy sám hối, đừng để qua cách ngày, cách đêm, cách giờ. Phải làm sao giữ một niệm thanh tịnh, không xen tạp, không hở dứt, đó mới thật là Vô Gián Tu”.</p>



<p>Trên đây là pháp Chuyên Tu Vô Gián của Thiện Đạo đại sư. Theo Thiên Trúc Truyện, Đại sư là hóa thân của Phật A-di-đà. Chỗ lập thuyết của Ngài, điểm chính yếu là ở nơi niệm niệm tương tục. Cô Sơn hòa thượng cũng bảo: “Chẳng nên xưng danh tán loạn, phát nguyện lơ là”. Và Vĩnh Minh đại sư cũng dạy: “Phải một lòng quy mạng, trọn kiếp tinh tu; khi ngồi, nằm thường hướng về Tây. Lúc lễ bái, niệm Phật, phát nguyện, phải khẩn thiết chí thành, không xen lẫn tạp niệm, trạng như người sắp bị hình lục, như kẻ đang ở lao tù, như người gặp giặc oán rượt theo, như bị nạn nước lửa bức bách, một lòng cầu cứu, nguyện thoát khổ luân, mau chứng Vô sinh để nối ngôi Tam Bảo, đền đáp bốn ân, độ loài hàm thức. Chí thành như thế, tất công phu không uổng. Trái lại, nếu lời và hạnh không hợp nhau, lòng tin không vững chắc, niệm lực thường gián đoạn không tương tục, đem sự biếng trễ ấy để mong vãng sinh thì e cho khi lâm chung khó gặp bạn lành, bị sức nghiệp lôi kéo, sự đau khổ ép bức mà không thành chánh niệm. Vì sao? Bởi việc hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả; nhân phải cho thật, quả mới không hư, như âm thanh lớn thì tiếng vang dội rền xa, và hình ngay bóng mới thẳng vậy”.</p>



<p>*</p>



<p>26. Hỏi: Tu làm sao cho mỗi niệm nối nhau, thật ra tôi vẫn muốn được như thế. Song chỉ hiềm định lực chưa thành, niệm đầu không chủ, hoặc tri giác cũ khó quên, hoặc tư tưởng vọng nổi dậy, hoặc xúc đối cảnh duyên tự kềm giữ không vững, hoặc tâm tình rối loạn cố ngăn dẹp chẳng kham. Cứ ngồi vào lần chuỗi một lúc là tâm niệm đã chạy hết Đông sang Tây, bất giác nó đã đi xa cách mấy ngàn muôn dặm hồi nào cũng không tự hay biết. Có khi phải bận lo một việc chi thì luôn trong năm, mười ngày hoặc đến cả tháng, tâm trí vẫn vướng vít chưa quên, chỉ dẹp trừ nó còn chưa xong nói gì đến việc gián đoạn! Điều nầy thốt ra thật đáng hổ thẹn, song nghĩ lại cũng đáng thương tâm! Không biết có cách gì đối trị chăng, xin nhờ Đại sư chỉ bảo?</p>



<p>Đáp: Đó là căn bệnh chung của hầu hết người tu. Trong lúc ấy nếu ông không thống thiết tự trách răn thì khó mà thành tựu pháp Chuyên Tu Vô Gián. Tôi nghe người xưa có ba điều thống thiết tự trách răn, nay vì ông tỏ bày, nên ghi nhớ cho kỹ:</p>



<p>* Điều thứ nhất là phải nghĩ đến sự báo ân. Người tu có những ân trọng. Hãy tạm gác qua ân Phật ân thầy, như ông là phận xuất gia, công ơn sinh dưỡng của cha mẹ há chẳng phải là sâu nặng ư? Ông đã lìa tục xuất gia, vì đi học đạo nên phải xa cách quê quán nhiều năm, cha mẹ nhọc nhằn cực khổ ông cũng không biết, khi già yếu đau bệnh lại cũng không hay mà săn sóc thuốc thang. Đến lúc cha mẹ mãn phần, ông không biết, hoặc có được tin thì về cũng đã trễ muộn. Khi ông còn nhỏ, có khi cha mẹ vì nuôi nấng thương lo cho con mà gây ra nhiều tội nghiệp, lúc chết rồi hoặc bị đọa vào nẻo khổ, hy vọng ông cứu độ như khát chờ uống, như hạn trông mưa. Nếu ông tu hành lơ láo tất Tịnh nghiệp không thành; đã không thành thì tự cứu chưa xong, làm sao cứu được cha mẹ? Đối với song thân ông đã lỗi phần phụng dưỡng về thể chất, mà còn không cứu độ được phần hương linh, tức là phụ nghĩa quên ân, là người đại bất hiếu. Kinh nói: “Phạm tội bất hiếu, sẽ bị đọa vào địa ngục”. Thế thì tâm niệm gián đoạn không chuyên tu, chính là nghiệp địa ngục vậy.</p>



<p>Lại ông không dệt mà mặc, không cày mà ăn. Phòng nhà, chăn gối, cơm áo, thuốc thang đều do đàn việt cúng dâng. Tổ sư từng răn dạy: “Hàng thiện tín vì sùng kính Tam Bảo đã chia cắt bớt phần ăn của gia đình đem đến cúng dường. Nếu người tu đạo hạnh không tròn thì dù là tấc vải, hạt cơm, kiếp sau cũng phải đền trả”. Muốn báo ân đàn việt, ông phải lo chuyên tu Tịnh nghiệp để độ mình độ người. Nếu ông sinh một niệm gián đoạn không chuyên, tất đã có phần trong kiếp luân hồi vay trả. Và tâm niệm ấy chính là nghiệp hạ tiện hoặc súc sinh vậy.</p>



<p>* Điều thứ hai là phải có chí quyết định. Người tu hành phải kiên quyết để đi đến kết quả. Ông một đời tham Thiền đã chẳng ngộ Thiền, khi học Giáo lại không tinh về Giáo. Cho đến ngày nay tâm địa chưa lắng yên, niệm đầu còn sôi nổi, khi thì muốn làm thi, lúc lại thích tả tự, khi thì thuyết giáo, lúc lại đàm Thiền, ý chí ly tán đi ba, bốn nẻo. Tổ sư đã bảo: “Tâm niệm còn vướng mắc, đó là nghiệp luân hồi. Tình tưởng vừa sinh ra, muôn kiếp bị ràng buộc”. Sở dĩ ông chưa được chánh niệm là do vì còn tình tưởng phân vân, và tình tưởng còn phân vân cũng bởi chí không quyết định. Cho nên, người tu mà ý chí không nhất quyết, đó chính là đầu mối của sự sa đọa Tam đồ vậy.</p>



<p>Lại nếu người tu ý chí không quyết định thì không thể gìn giữ giới căn. Do ý niệm phân vân nên không thể thâu nhiếp thân và khẩu. Kinh nói: “Thà lấy nước đồng sôi rót vào miệng, nguyện không để miệng phá giới nầy thọ các thức ăn uống của tín tâm đàn việt. Thà dùng lưới sắt nóng quấn thân thể mình, nguyện không để thân phá giới nầy thọ những y phục của tín tâm đàn việt”. Phương chi, do các giới không trang nghiêm nên tâm càng vọng động; nhân sự vọng động ấy mà phần chuyên tu bị gián đoạn. Thế thì một niệm gián đoạn, đâu chỉ là nghiệp nhân của lưới sắt nóng và nước đồng sôi ư?</p>



<p>Và nếu người tu ý chí không quyết định, tất không nhận rõ tướng đời giả huyễn, dễ chạy theo danh lợi hư phù. Khi danh lợi thuộc về mình thì sinh lòng mê đắm, danh lợi thuộc kẻ khác lại sinh lòng ganh ghét hơn thua. Cổ đức bảo: “Tham đắm danh lợi đi về nẻo súc, đường quỷ; buông lòng thương ghét đồng vào hầm lửa vạc dầu!”. Thế thì một niệm gián đoạn chính là ngạ quỷ, hầm lửa vậy.</p>



<p>* Điều thứ ba là cầu sự ứng nghiệm. Người đã tu Tịnh nghiệp nên cố gắng làm sao cho có sự ứng nghiệm. Kiếp người mong manh, vô thường chẳng hẹn. Như ông nay tóc đã điểm bạc, da đượm nét nhăn, tướng suy tàn hiện rõ, kỳ lâm chung phỏng còn được mấy ngày? Vậy ông phải cố gắng chuyên tu, làm sao cho có triệu chứng vãng sinh chắc chắn. Như khi xưa, Huệ Viễn pháp sư ở Lô Sơn, ba phen thấy Phật xoa đầu. Lại như Hoài Cảm pháp sư chí thành xưng danh hiệu Phật, liền thấy đức A-di-đà phóng ánh quang minh, hiện ra tướng hảo. Và như Thiếu Khang pháp sư khi niệm Phật một câu, đại chúng liền thấy một vị Phật từ nơi miệng bay ra, cho đến trăm ngàn câu cũng như thế, tợ hồ các hạt chuỗi nối tiếp nhau. Những sự ứng nghiệm như thế có đến muôn ngàn. Nếu tâm ông không gián đoạn thì thấy Phật rất dễ; như còn gián đoạn, tất khó thấy Phật. Đã không thấy Phật thì cùng với Phật vô duyên. Và đã vô duyên quyết khó sinh Tịnh độ. Khi không được sinh về Tịnh độ tất sớm muộn gì cũng bị đọa vào ác đạo. Thế thì một niệm gián đoạn chính là nghiệp Tam đồ vậy. Phải nên răn dè và suy nghĩ kỹ!</p>



<p>Ba điều cảnh sách trên, người tu Tịnh nghiệp phải ghi nhớ suy nghĩ rồi tự trách răn một cách thống thiết, làm sao cho tâm không rời Phật, Phật chẳng rời tâm, đạo cảm ứng giao thông, hiện đời được thấy Phật. Đã thấy đức Phật ở Cực Lạc, tức thấy chư Phật khắp mười phương, và thấy chư Phật mười phương, tức thấy vị Phật thiên chân của tự tánh. Khi thấy được Phật tự tánh thì sự đại dụng sẽ hiện tiền. Chừng ấy mới theo lòng bi nguyện, độ khắp quần sinh. Đó gọi là Tịnh độ Thiền mà cũng là Thiền Tịnh độ vậy. Thế thì ý của ngài Vĩnh Minh nói: “Có Thiền có Tịnh độ, dường như cọp mọc sừng, đời nay làm thầy người, đời sau làm Phật Tổ” há chẳng là ứng nghiệm trong giai đoạn nầy ư? Phải nên cố gắng!</p>



<p>Thiền giả nghe xong vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lặng lẽ giây lâu, dường như tìm được vật chi đã mất. Thiên Như lão nhơn lại bảo: “Thiền cùng Tịnh độ vẫn không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, đừng nên lầm nhận!”. Thiền thượng nhơn liền đảnh lễ mà thưa rằng: “Tôi rất may mắn được nhờ ơn chỉ bảo, nay đã biết đường về!” rồi từ tạ mà lui.</p>



<p>Lời phụ:</p>



<p>“Thiền cùng Tịnh độ vẫn không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê”. Lời của Thiên Như đại sư quả thật xác đáng. Bởi Chân tâm bao hằng sa muôn pháp, hàm vô biên quốc độ, nơi Thiền gọi là Bản lai diện mục, nơi Tịnh gọi là Tự Tánh Di-đà. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Mười phương hư không sinh trong tâm ông như áng mây nổi điểm giữa trời xanh rộng lớn bao la, huống chi vô lượng thế giới ở trong hư không ư?”. Cổ đức cũng bảo: “Hằng sa pháp ấy Bồ-đề đạo, nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm!”. Vì Chân tâm bao hàm muôn tượng nên nếu người tu Thiền mà hiểu Thiền bằng lý không không, rồi bác chẳng có Cực Lạc, bác sự cầu sinh, tất chưa phải là người hiểu Thiền. Sở dĩ ngài Thiên Như nhiều phen cặn kẽ chỉ bày là để phá mối chấp không đó. Về phần thể, Chân tâm xán lạn bao hàm vô biên thế giới, gọi là Thiền Tịnh độ và vô lượng thế giới ảnh hiện trong Chân tâm, tất cả đều tịch tịnh như huyễn, gọi là Tịnh độ Thiền. Về phần dụng, hành giả khi đã ngộ tánh Bản lai, rồi khởi lên bi nguyện tu những hạnh trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sinh, gọi là Thiền Tịnh độ và nếu dùng môn Tịnh độ để nhiếp hóa hữu tình trở về chân tánh, gọi là Tịnh độ Thiền.</p>



<p>Tóm lại, Thiền tức Tịnh độ, Tịnh độ tức là Thiền. Nếu bác Tịnh độ chính là chưa hiểu rõ Thiền, và bác Thiền cũng chẳng suốt thông Tịnh độ. Liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi do lý đó.</p>



<p>Đề bạt:&nbsp;</p>



<p>&nbsp;“Tức tâm là độ lý không ngoa</p>



<p>Tịnh khác Thiền đâu vẫn một nhà</p>



<p>Phước kết trang nghiêm phần sắc tướng</p>



<p>Huệ tuôn vô ngại cõi hằng sa.</p>



<p>Trời Tây sáng lạ màu vi diệu</p>



<p>Nguyện Phật thâm sâu đức hải hà</p>



<p>Ngoảnh lại đường tu ai sớm tỉnh?</p>



<p>Nỗi thương ác đạo mãi vào ra!”.</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tinh-do-hoac-van-tac-gia-ht-thich-thien-tam/">Tịnh Độ Hoặc Vấn Tác giả: HT.Thích Thiền Tâm</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/tinh-do-hoac-van-tac-gia-ht-thich-thien-tam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tịnh Độ Cảnh Ngữ Tác giả: Thích Minh Thành</title>
		<link>https://chuacoam.com/tinh-do-canh-ngu-tac-gia-thich-minh-thanh/</link>
					<comments>https://chuacoam.com/tinh-do-canh-ngu-tac-gia-thich-minh-thanh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[chuacoam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Mar 2020 03:52:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Sách dịch]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện kinh sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thư viện Phật giáo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://chuacoam.com/?p=1106</guid>

					<description><![CDATA[<p>Người đời ai cũng muốn tìm cầu hạnh phúc, nên chạy đuổi theo tiền của, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế, ăn uống và ngủ nghỉ… Họ lầm tưởng rằng sẽ được vui sướng lâu dài, nhưng cuối cùng vẫn phải gánh chịu nhiều đau khổ! Người vào đạo chán cõi Ta-bà[1]&#160;xấu xa uế trược,...</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tinh-do-canh-ngu-tac-gia-thich-minh-thanh/">Tịnh Độ Cảnh Ngữ Tác giả: Thích Minh Thành</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Người đời ai cũng muốn tìm cầu hạnh phúc, nên chạy đuổi theo tiền của, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế, ăn uống và ngủ nghỉ… Họ lầm tưởng rằng sẽ được vui sướng lâu dài, nhưng cuối cùng vẫn phải gánh chịu nhiều đau khổ!</p>



<p>Người vào đạo chán cõi Ta-bà<a href="http://chuahoangphap.com.vn/webadminqthp/books_title.php?book_id=180&amp;mode=add#_ftn1">[1]</a>&nbsp;xấu xa uế trược, chí tâm niệm Phật mong muốn vãng sinh, nhưng dù trải qua nhiều năm tháng thực hành vẫn không đạt được chỗ nhất tâm bất loạn?</p>



<p>Nguyên do là tại đâu? Bởi vì vô minh, mê lầm, cứ lầm cho mọi vật là thật, là bền lâu mãi mãi nên bám chấp vào đó… để rồi khi sự thật vô thường xảy ra thì đau khổ vô cùng. Thế nên, đạo Phật lấy việc&nbsp;<em>nhận rõ lẽ thật</em>&nbsp;(giác ngộ) làm chánh nhân để giải thoát. Lẽ thật đó chính là sự biến đổi vay mượn ở ngay nơi bản thân mình, tâm mình và sự vật chung quanh mình mình.</p>



<p>Vạn vật trên thế gian này dù lớn hay nhỏ, dù có tướng hay không hình, từ thân tâm cho đến hoàn cảnh đều là tạm bợ luôn biến đổi không dừng, được tồn tại, duy trì bằng sự vay mượn liên tục nên cuối cùng phải tan rã hoại diệt. Bằng trí sáng của mình mà chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, xét nét tận tường, chắc chắn ai cũng có thể thấy rõ điều này.</p>



<p>Khi đã thấy rõ được sự huyễn hóa, tạm bợ ở nơi vạn vật rồi thì tự nhiên chẳng còn cái gì đáng để cho chúng ta lưu luyến hay nắm giữ nữa. Lúc đó, nơi lòng chỉ nhẹ nhàng A-di-đà Phật rõ ràng sáng suốt, thân tâm an định, trí tuệ tỏa chiếu hết sạch mê lầm, thuần nhất một tâm không loạn động. Ngay hiện tại tự mình rõ biết đã được dự vào hàng Thượng phẩm Thượng sinh, đâu phải đợi đến lúc lâm chung!</p>



<p>Người niệm Phật tuy thiết tha, nhưng trong lòng ai cũng còn dẫy đầy tham sân. Hơn nữa, cõi trần bên ngoài lại nhiều cạm bẫy ngũ dục bủa giăng,&nbsp;<em>Tịnh Độ Cảnh Ngữ</em>&nbsp;là những lời nhắc nhở hết sức chân thành, có giá trị thiết thực chỉ rõ con đường để người tu không lạc lối. Chiêm nghiệm từng lời, từng câu của ngài Hành Sách, chúng ta mới thấy được tấm lòng từ bi vô hạn của những người đi trước.</p>



<p>Do cảm nhận được giá trị chân thật của chánh pháp nên Đại đức Trụ trì chùa Hoằng Pháp, cùng các huynh đệ Pháp Đăng, Tâm Huệ và Phật tử Diệu Thiện… đã tận tâm tận lực hỗ trợ giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành quyển sách này.</p>



<p>Chúng tôi tuy có tấm lòng nhiệt thành đối với những người cùng tu, nhưng sự hiểu biết còn nông cạn, trong khi phiên dịch sẽ không sao tránh khỏi những điều sai lầm sơ thất. Kính mong các bậc Tôn đức và pháp hữu mười phương niệm tình chỉ giáo. Thành kính tri ân vô lượng!</p>



<p><em>Am Pháp Ấn, núi Linh Quy</em></p>



<p><em>Ngày 03 tháng 05 năm 2007</em></p>



<p>Thích Minh Thành&nbsp;<em>kính ghi</em><br></p>



<hr class="wp-block-separator"/>



<p><a href="http://chuahoangphap.com.vn/webadminqthp/books_title.php?book_id=180&amp;mode=add#_ftnref1"><strong>[1]</strong></a>Tức thế giới hiện thực được sự giáo hóa của đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Chúng sinh ở thế gian này làm mười điều ác, chịu đựng các phiền não mà không chịu lìa bỏ, nên gọi là Nhẫn. Lại nữa, khi chư Phật, Bồ-tát làm việc lợi lạc cõi này thì các Ngài phải chịu đựng các khổ não nên gọi là Nhẫn. Ta-bà (Sa-bà) còn được dịch là Tạp Ác, Tạp Hội, có nghĩa quốc độ này là nơi tụ hội của tam ác, ngũ thú. Ngoài ra, từ ngữ Ta-bà vốn chỉ cõi Diêm-phù-đề mà chúng ta đang ở, đời sau trở thành từ ngữ chỉ thế giới Tam thiên đại thiên do Phật Thích-ca giáo hóa, nên gọi chung thế giới có trăm ức núi Tu-di là Ta-bà.</p>
<p>The post <a href="https://chuacoam.com/tinh-do-canh-ngu-tac-gia-thich-minh-thanh/">Tịnh Độ Cảnh Ngữ Tác giả: Thích Minh Thành</a> appeared first on <a href="https://chuacoam.com">Chùa Cổ Am</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://chuacoam.com/tinh-do-canh-ngu-tac-gia-thich-minh-thanh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
